Nội dung sửa án 

(i) Trong quá trình làm việc, ông H vắng mặt trong đợt tập huấn nhân viên vào chiều ngày 20 và 21/10/2020 nhưng không được sự đồng ý của người có thẩm quyền, không thực hiện bàn giao công việc, hồ sơ liên quan khi điều chuyển công tác. Xét tính chất, mức độ vi phạm kỷ luật lao động của ông H, Công ty đã ban hành Quyết định số 143/2020/QĐ-NT ngày 14/12/2020 với hình thức kỷ luật cảnh cáo và Quyết định số 145/2020/QĐ-NT ngày 17/12/2020 với hình thức xử lý kỷ luật cách chức do ông H vắng không phép từ ngày 24/11 đến ngày 27/11/2020, mức độ vi phạm: Tái phạm nhiều lần và điều chuyển ông H về Văn phòng Công ty tại Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh kể từ ngày 21/12/2020. Như vậy, từ ngày 21/12/2020, Công ty đã điều chuyển ông H về làm việc tại Văn phòng Công ty ở Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, Quyết định điều chuyển 105/2020/QĐ-NT ngày 01/10/2020 không còn tồn tại. Căn cứ đơn khởi kiện ngày 01/9/2021 và các ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn yêu cầu tuyên bố Quyết định điều chuyển 105/2020/QĐ-NT ngày 01/10/2020 trái pháp luật, không yêu cầu hủy quyết định này. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hủy Quyết định 105/2020/QĐ-NT ngày 01/10/2020 là chưa phù hợp.

(ii) Căn  cứ  Vi  bằng  số  101/2023/VB-TPLHN  do Văn  phòng  T3 Nguyễn lập ngày 01/3/2023 thể hiện: Các ngày 26/11/2020 và 01/12/2020, Công ty  đã  gửi Thông  báo  số  303/2020/TB-NT ngày 26/11/2020 qua email caohocvnn@gmail.com mời ông H và những người liên quan tham gia họp xử lý kỷ luật đối với ông H vào lúc 14 giờ ngày 03/12/2020, tuy nhiên ông H vắng mặt. Sau cuộc họp ngày 03/12/2020, Công ty đã gửi Biên bản họp xem xét xử lý kỷ luật cho ông vào lúc 9 giờ 45 phút ngày 04/12/2020 nhưng ông H không có ý  kiến phản hồi.  Xét  thấy,  hai quyết định kỷ luật 143/2020/QĐ-NT ngày 14/12/2020 và 145/2020/QĐ-NT ngày 17/12/2020 có sự khác biệt về tính chất, mức độ, hành vi vi phạm kỷ luật lao động của ông H. Các ngày 14/12/2020 và 17/12/2020, Công ty đã gửi hai quyết định này qua email nêu trên của ông H, được thể hiện tại Vi bằng số 118/2023/VB-TPLHN do Văn phòng T3 Nguyễn lập ngày 10/3/2023. Tòa án cấp sơ th m cho rằng Công ty Lban hành các quyết định xử lý kỷ luật  ông H như trên và trái quyđịnh pháp luật là chưa phù hợp.

(iii) Hội đồng xét xử xét thấy: Trước khi Công ty thực hiện các thủ tục xử lý kỷ luật lao động đối với ông H, Công ty đã 03 lần gửi thông báo cho ông H và 03 lần mở phiên họp xem xét xử lý kỷ luật vào các ngày 01/3/2021, 15/3/2021 và 29/3/2021 nhưng ông H vắng mặt không lý do. Căn cứ địa chỉ ghi trên hợp đồng lao động đang còn hiệu lực, địa chỉ email ông H sử dụng trao đổi công việc trong thời gian làm việc. Công ty đã thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động theo quy định tại Điều 122 của Bộ luật Lao động năm 2019 và điểm a khoản 2 Điều 70 Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số đi u của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động. Ông H đã tự ý nghỉ việc không thuộc trường hợp được xác định có lý do chính đáng” theo quy định tại khoản 3 Điều 126 của Bộ luật Lao động năm 2012, tương ứng khoản 4 Điều 125 của Bộ luật Lao động năm 2019 nên việc Công ty xử lý kỷ luật ông H với hình thức sa thải theo quy định tại khoản 4 Điều 124 của Bộ luật Lao động năm 2019 là phù hợp. Phiên họp xử lý kỷ luật lao động ông H được lập thành biên bản, có sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Trước khi ban hành quyết định sa thải, ngày 08/4/2021 Công ty đã lấy ý kiến của Công đoàn cơ sở, đồng thời ngày 13/4/2021 Công ty đã có văn bản số 03/2021/CV-NT báo cáo với Công đoàn các Khu chế xuất và công nghiệp thành phố và được cơ quan này phản hồi ý kiến bằng Văn bản số 65/CĐKCX ngày 27/4/2021. Như vậy, việc tiến hành xử lý kỷ luật lao động sa thải đối với ông H đã được thực hiện phù hợp với quy định tại điểm b, d khoản 1 Điều 122, khoản 3 Điều 177 của Bộ luật Lao động 2019; khoản 2 Điều 25 Luật Công đoàn năm 2012 và khoản 3 Điều 70 Nghị định 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị đơn đã sa thải nguyên đơn trái pháp luật và tuyên hủy là Quyết định sa thải số 37/2021/QĐ-NT ngày 19/5/2021 là chưa phù hợp.

(iv) Đối với yêu cầu trả tiền phép năm 2020 chưa nghỉ: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 08 ngày phép năm 2020 chưa nghỉ, tuy nhiên  Tòa  án  cấp  sơ  thẩm  chấp  nhận  một  phần  yêu  cầu  khởi  kiện  này  của nguyên đơn, buộc bị đơn trả 06 ngày phép năm 2020 chưa nghỉ với số tiền 8.104.091 đồng. Nguyên đơn đồng ý với quyết định này, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ các hợp đồng lao động hai bên đã ký,  ng Hlàm việc tại C ng ty từ năm 2012 đến năm 2020; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 111, Điều 112 của Bộ luật Lao động 2012,  ông H có  13 ngày nghỉ trong năm 2020. Căn cứ các Đơn xin nghỉ phép từ ngày 20/01/2020 đến 02/11/2020 của ông H gửi Công ty, có cơ sở xác định  ông H đã xin nghỉ ph p và được Công ty chấp nhận cho nghỉ 14.5 ngày và 03 giờ phép trong năm 2020, sau khi trừ phép năm 2019  ông H đã nghỉ, có cơ sở xác định năm 2020 ông H đã nghỉ ph p 9,5 ngày. Công ty đồng ý trả tiền phép năm 2020 cho ông H tương ứng với 3,5 ngày phép chưa sử dụng với số tiền 4.036.136 đồng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.