Nội dung sửa án 

(i) Theo đơn khởi kiện, bà H cho rằng Công ty không đưa ra được chứng cứ để chứng minh bà H vi phạm Nội quy của Công ty đến mức phải xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải nên việc Công ty chấm dứt hợp đồng lao động với bà H là trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H nên khởi kiện yêu cầu Công ty bồi thường (bút lục 01, 02). Công ty cho rằng trong quá trình làm việc, với nhiệm vụ là người chấm công, chi tiền lương cho công nhân, bà H không kiểm tra đối chiếu các tư liệu liên quan, vẫn làm biểu lương và phát lương tháng 8, tháng 9 năm 2017 cho công nhân tên Trần Văn Sơn đã nghỉ việc tại Công ty số tiền 11.390.000 đồng và mạo danh nhận số tiền trên, làm ảnh hưởng đến Công ty. Sau khi Công ty phát hiện bà H có hành vi tham ô tài sản của Công ty, Công ty không lập biên bản, không báo cho cơ quan có thẩm quyền để xử lý đối với hành vi của bà H. Khi hết hạn hợp đồng lao động, Công ty không ký hợp đồng lao động mới nhưng vẫn cho bà H tiếp tục làm việc là để bà H lấy tiền lương trừ vào số tiền 11.390.000 đồng. Ngày 14/11/2017, bà H bồi thường hết số tiền 11.390.000 đồng nên Công ty căn cứ Nội quy của Công ty để xử lý kỷ luật “sa thải” đối với bà H; chứng cứ mà Công ty cung cấp để chứng minh là Biên bản bàn giao công việc ngày 20/11/2017, Thông báo sa thải và Phiếu thu ngày 14/11/2017 (bút lục 23, 24, 46). Do vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Xử lý kỷ luật lao động theo hình, Bản án số 01/2019/LĐ-ST ngày 26/3/2019 của Tòa án nhân dân thị xã TU đã xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là không đúng, dẫn đến việc áp dụng sai quy định của Bộ luật Lao động.

(ii) Công ty phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật cho bà H trong những ngày không được làm việc, từ ngày 26/11/2017 đến ngày 26/3/2019 theo mức lương trong hợp đồng lao động mà hai bên đã ký kết là 7.000.000 đồng/tháng. Bản án sơ thẩm buộc Công ty đóng theo mức lương 5.300.000 đồng/tháng là không có căn cứ.