Nội dung hủy án 

(i) Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA092186, số vào sổ cấp GCN: CH03807 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 19/6/2015 thì đất chuyển nhượng: 301,7m2 thuộc thửa đất số 691, tờ bản đồ số 33, địa chỉ ấp 3, xã C, huyện D, thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng của bà Lê Thị C. Căn cứ Kết luận giám định số 57/KLGĐ-TT ngày 07/12/2015 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh thì chữ ký, chữ viết họ tên “Lê Thị C” và dòng chữ “Đã đọc và đồng ý” trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, công chứng số 004134/HĐ-CNQSDĐ ngày 07/9/2015 lập tại Văn phòng Công chứng T không phải là của bà Lê Thị C (người có quyền sử dụng đất chuyển nhượng). Theo lời khai thống nhất của ông L và Văn phòng Công chứng T thì bà Lê Thị C yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bà Lê Thị C có quyền sử dụng đất chuyển nhượng không phải là một người. Do đó, có căn cứ để xác định người chuyển nhượng quyền sử dụng đất (ghi tên Lê Thị C) trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không phải là người có quyền sử dụng đất nên hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu là có căn cứ nhưng lại quyết định công nhận sự thỏa thuận của ông L và bà Lê Thị C (người có quyền sử dụng đất chuyển nhượng), thỏa thuận hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không đúng quy định pháp luật vì bà Lê Thị C (người có quyền sử dụng đất chuyển nhượng) không phải là người giao kết hợp đồng (bên chuyển nhượng) nên không có quyền thỏa thuận hủy hợp đồng.

(ii) Tại Khoản 3, Điều 2 của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất công chứng số 004134 ngày 07/9/2015, các bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 300.000.000 đ (ba trăm triệu đồng), việc giao và nhận số tiền nêu trên do hai bên thực hiện ngoài sự chứng kiến của công chứng viên và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ông L khai bà C đã giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ông nhưng chưa giao đất và Ông đã giao 300.000.000 đ (ba trăm triệu đồng) cho bà C nhưng không lập biên nhận giao nhận tiền. Do nội dung Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên không thể hiện ông L đã giao 300.000.000 đ (ba trăm triệu đồng) cho bà C và ông L không cung cấp đươc tài liệu, chứng cứ để chứng minh là Ông đã giao cho bà C 300.000.000 đ (ba trăm triệu đồng) nên không có căn cứ để xác định ông L bị thiệt hại 300.000.000 đ (ba trăm triệu đồng) do hợp đồng công chứng vô hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu đòi bồi thường thiết hại của ông L là không đúng với quy định tại Điều 604 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và hướng dẫn tại các Mục 1, 5, Phần I Nghị quyết số 03/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

(iii) Ông L không thừa nhận giữa Ông và bà C xác lập giao dịch vay tiền có bảo đảm bằng quyền sử dụng đất. Tại Tòa án cấp sơ thẩm, ông L cho rằng Thông báo kết quả giải quyết tin báo tố giác về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố số 19 ngày 10/02/2016 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an huyện D không chính xác, nên cần phải thu thập Đơn tố cáo của ông L gửi cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an huyện D ngày 21/10/2015 để kiểm tra nội dung đơn. Đồng thời, Giấy giao nhận tiền do ông L cung cấp không có công chứng, chứng thực chữ ký của bà C và theo lời khai của ông L thì người làm chứng trong giấy giao nhận tiền là ông Nguyễn Ngọc Hồ đã chết nên cần phải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định tính xác thực của giấy giao nhận tiền nêu trên. Mặt khác, để có cơ sở xác định công chứng viên có thực hiện đúng quy định của pháp luật trong việc chứng nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L và bà Lê Thị C không thì cần phải thu thập tài liệu nhân thân của bà Lê Thị C trong hồ sơ công chứng (chứng minh nhân dân, hộ khẩu, giấy xác nhận độc thân …) và xác minh tính xác thực, hợp pháp của các tài liệu trên. Do Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ các tài liệu, chứng cứ nêu trên mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể bổ sung được nên phải hủy phần án sơ thẩm giải quyết yêu cầu độc lập của ông L để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

(iv) Ngoài ra, căn cứ Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho Luật sư và Công chứng viên số C26/TNNN/19/04/15 ngày 09/6/2015 và Giấy chứng nhận Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp Luật sư – Công chứng viên số 15/19/04/TNNN/PC00026 ngày 09/6/2015 thì Văn phòng Công chứng T có ký hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm công chứng viên với Công ty Bảo hiểm P và Văn phòng Công chứng T có yêu cầu Công ty Bảo hiểm P bồi thường nếu Văn phòng Công chứng T phải bồi thường cho ông L nên cần phải đưa Công ty Bảo hiểm vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.