Nội dung hủy án:

Xét hành vi của bị cáo Trần Văn T bị khởi tố, truy tố và xét xử về tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy”. Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 172/2023/HS-PT ngày 26/10/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã chỉ ra những thiếu sót trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và quyết định hủy một phần Bản án sơ thẩm số: 34/2023/HS-ST ngày 28/4/2023 của Toà án huyện Yên Dũng (nay là thành phố B), chuyển hồ sơ về Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng (nay là thành phố B) để điều tra lại, tuy nhiên đến nay, Cơ quan điều tra vẫn chưa làm rõ. Cụ thể:

(i) Việc Trần Văn T đến làm việc tại quán K3: T và T7 đều khai Thăng đến làm từ ngày 13/10/2021, thoả thuận bằng miệng và không có hợp đồng. T khai được T7 thuê làm phục vụ dọn dẹp quán theo sự điều hành của D, T7 và thời gian T làm việc thì D đều có mặt tại quán. T7 khai thuê T làm quản lý. D không thừa nhận lời khai của T nhưng thừa nhận có hình ảnh của mình tại Video thu giữ tại quán K3..Dữ liệu video từ 18h ngày 15/10/2021 đến 5h59p ngày 16/10/2021 có ghi nhận hình ảnh, việc làm của D, chị T7, T....Khi điều tra lại, Cơ quan điều tra vẫn không trích xuất dữ liệu Camera của quán K3 các ngày trước đó còn lưu trong đầu thu để làm rõ, đánh giá lời khai T7, D, T, để xác định nhiệm vụ, công việc của T được Luyện Thị T7 hay Hoàng Hữu D giao như thế nào. Khi làm việc tại quán K3, Trần Văn T có được tự ý đứng ra tiếp nhận khách đến thuê phòng, thuê dịch vụ chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy hay không hay đóng vai trò gì đối với việc để cho nhóm của Trần Tuấn A tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại địa điểm nêu trên.

(ii) Trong quá trình điều tra chưa làm rõ ai là người đã trang bị đèn led, loa đài phòng sập tầng 4 để các đối tượng sử dụng ma túy. Quán K3 có Giấy đăng ký hoạt động kinh doanh đứng tên ông Triệu Văn N. Tại hồ sơ và phiên toà, chị T7 khai thuê lại quán K5 của anh Hoàng Tiến M để kinh doanh, có Hợp đồng thuê nhà ký ngày 07/8/2021 (BL158), không đầu tư, trang bị gì thêm. Tại Biên bản làm việc ngày 04/5/2022 (BL159) anh Hoàng Tiến M khai không lắp các thiết bị âm thanh, đèn chiếu, đèn lead tại Phòng tầng 4. Hồ sơ chưa có lời khai của ông Triệu Văn N. Như vậy, Cơ quan điều tra chưa làm rõ để xem xét, đánh giá ai mới là người đã xây dựng, tạo lập phòng sập có các chức năng nghe nhạc, nghỉ ngơi cho người sử dụng ma túy (thu hút khách sử dụng ma tuý đến thuê phòng) cũng như việc chứng minh hành vi của bị cáo T có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hay không, nếu có thì vai trò của bị cáo T trong vụ án này như thế nào.

(iii) Chưa làm rõ căn cứ xác định T có mặt khi nhóm khách trong phòng sử dụng ma tuý. Việc trích xuất hình ảnh dữ liệu camera liên quan đến bị cáo T, đến Hoàng Hữu D và những người có liên quan đến sự việc còn chưa đầy đủ; Chưa làm rõ việc khi kiểm tra T có mặt trong phòng các đối tượng sử dụng ma túy hay không?

(iv) Tại các video trích xuất từ camera của quán K5 thể hiện: Hoàng Hữu D có mặt tại quán từ lúc 18 giờ ngày 15/10/2021 đến 01 giờ 16 phút ngày 16/10/2021 tại quầy tầng 1; Luyện Thị T7 là chủ quán, có mặt tại thời điểm quán được kiểm tra (từ 1 giờ 33p) nhưng khi lập biên bản kiểm tra lại không thể hiện có mặt Hoàng Hữu D, Luyện Thị T7.

(v) Cơ quan điều tra chưa thu thập dữ liệu Camera của quán K3 các ngày trước đó còn lưu trong đầu thu theo quy định tại Điều 102 và Điều 195 Bộ luật Tố tụng hình sự.

(vi) Việc hoạt động tại quán K3 theo bị cáo T khai được vợ chồng chị Luyện Thị T7, anh Hoàng Hữu D lập nhóm Z có đưa bị cáo vào nhóm nên tất cả công việc hoạt động, điều hành, quản lý của quán đều được thực hiện trên Zalo nhưng Cơ quan điều tra làm rõ, không thu giữ điện thoại của T7, của D. Khi thu giữ điện thoại của bị cáo Trần Văn T cơ quan điều tra không tiến hành kiểm tra, thu thập để làm rõ hoạt động, quản lý của quán, trên cơ sở đó để làm rõ hành vi của T7, D và T.

(vii) Căn cứ Điều 3 Thông tư 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC- BTP ngày 14 tháng 11 năm 2015 của Bộ C4, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp cần làm rõ hành vi của chị Luyện Thị T7, anh Hoàng Hữu D và Trần Văn T có dấu hiệu phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” hay không, hay các đối tượng này đóng vai trò gì đối với hành vi để cho nhóm của Trần Tuấn A, Nguyễn Văn T5 tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại địa điểm nêu trên nhằm xác định sự thật của vụ án được quy định tại Điều 15 Bộ luật Tố tụng hình sự.

(viii) Bản án huỷ yêu cầu điều tra lại để làm việc, tiến hành tố tụng đối với Hoàng Hữu D và Luyện Thị T7. Quá trình điều tra lại, Cơ quan điều tra chỉ xác định

D và T7 không có mặt tại địa phương nên không làm việc được. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm T8 và D đều có mặt tại phiên toà. Từ trích xuất camera xác định D nhiều lần đứng tại quầy lễ tân để thực hiện công việc của một nhân viên của quán chứ không phải đến chơi như D khai? Nội dung này chưa được Cơ quan điều tra xác minh làm rõ.

(ix) Tại phiên tòa phúc thẩm, khi thực hiện tranh tụng, Hội đồng xét xử trình chiếu chứng cứ dữ liệu điện tử là video trích xuất camera của quán K3 được lưu trữ trong USB trong hồ sơ vụ án cho thấy:

Khi Tổ công tác vào kiểm tra quán K3 trên mặt quầy thu ngân có 02 tập giấy để ghi chép. Bị cáo T xác định đó là 02 tập hoá đơn thường xuyên đặt trên mặt bàn quầy thu ngân của quán K3 và anh D là người ghi chép, quản lý tập hoá đơn này.

Trong video CAM 3 ghi nhận: có hình ảnh anh Hoàng Hữu D tính, ghi chép vào tập hoá đơn đặt trên mặt quầy thu ngân của quán K3 vào thời gian 22 giờ 59p ngày 15/10/2021và 0 giờ 57 đến 01 giờ 08p ngày 16/10/2021.

Dữ liệu video ghi nhận từ 1 giờ 33p chị T7 có mặt tại quán K3, trực tiếp lấy Giấy đăng ký hoạt động của quán K3 cất dưới tủ bàn quầy thu ngân để xuất trình cho đại diện Tổ công tác, tham gia làm việc với đại diện Tổ công tác nhưng các Biên bản kiểm tra cơ sở kinh doanh ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về ANTT, Biên bản kiểm tra hành chính phòng tầng 3, tầng 4 do Phòng CSQLHC về TTXH lập lại không có chữ ký nhận của bà Luyện Thị T7 là chủ cơ sở.

Video CAM 3 ghi nhận 02 tập hoá đơn được đặt tại mặt bản quầy thu ngân của quán K3 cùng với Giấy đăng ký hoạt động của quán và nhiều thành viên Tổ công tác lật kiểm tra, chụp ảnh lại 2 tập hoá đơn này (vào thời điểm 1h20p, 1h24p - 1h29p, 1h34p ...đến 5h59p). Tuy nhiên, tại các Biên bản kiểm tra hành chính (BL97); Biên bản kiểm tra cơ sở kinh doanh (BL96), niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL106), Biên bản thu giữ vật chứng, đồ vật, tài liệu của vụ án không thấy nhắc đến tài liệu (02 tập hoá đơn này) này.

Như vậy, theo dữ liệu trích xuất camera của quán K3 đã trình chiếu công khai tại phiên toà, cho thấy khi kiểm tra, Tổ công tác đã làm việc với Trần Văn T phát hiện và kiểm tra, chụp ảnh lại 02 tập hoá đơn và làm việc với chủ quán Luyện Thị T7 để yêu cầu xuất trình và kiểm tra giấy đăng ký hoạt động kinh doanh của quán K3 nhưng 2 tập hoá đơn chưa được thu thập để xem xét, đánh giá nhằm làm rõ ai là người quản lý hoạt động của quán K3, làm rõ sự liên quan của chị Luyện Thị T7, anh Hoàng Hữu D trong vụ án.

(x) Hành vi của Luyện Thị T7, Hoàng Hữu D có dấu hiệu đồng phạm với bị cáo T nên Toà án cấp sơ thẩm ra quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra nhiều lần yêu cầu làm rõ hành vi của T7, D có dấu hiệu của tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256 Bộ luật hình sự nhưng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng (nay thành phố B) giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Văn T và Toà án cấp sơ thẩm tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về giới hạn của việc xét xử nên Toà án cấp sơ thẩm không có lỗi.

(xi) Như vậy, những nội dung đã được chỉ rõ tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 172/2023/HS-PT ngày 26/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang nhưng sau khi Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang quyết định hủy một phần bản án sơ thẩm: 34/2023/HS-ST ngày 28/4/2023 của Toà án huyện Yên Dũng, trả hồ sơ để cho chuyển hồ sơ về Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng (nay là thành phố B) để điều tra lại, tuy nhiên đến nay vẫn chưa tiến hành điều tra làm rõ lại các tình tiết đã được bản án chỉ ra và có những tình tiết mới tại phiên tòa phúc thẩm liên quan đến việc việc xác định sự thật khách quan của vụ án mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.