Bản án hình sự phúc thẩm số 172/2023/HS-PT ngày 26/10/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Trần Văn T do có kháng cáo của bị cáo Trần Văn T
Nội dung hủy án:
(i) Về việc thu thập tài liệu, chứng cứ: Trong quá trình điều tra chưa thu thập sổ sách thanh toán, các cuộc gọi đến, gọi đi trong các ngày từ 13 đến ngày 16/10/2021 của quán K3, của Hoàng Hữu D và của Trần Văn T để làm rõ vị trí, vai trò của Luyện Thị T4, Hoàng Hữu D và Trần Văn T. Trên cơ sở đó để xác định ai là người quản lý các hoạt động của quán K3.
(ii) Việc Trần Văn T đến làm việc tại quán K3 các bên có giao kết hợp đồng lao động không, quyền và nghĩa vụ được xác định như thế nào. Trên cơ sở đó để xác định nhiệm vụ, công việc của T được Luyện Thị T4 hay Hoàng Hữu D giao như thế nào. Khi làm việc tại quán K3, Trần Văn T có được tự ý đứng ra tiếp nhận khách đến thuê phòng, thuê dịch vụ chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy hay không hay đóng vai trò gì đối với việc để cho nhóm của Trần Tuấn A tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại địa điểm nêu trên.
(iii) Trong quá trình điều tra chưa làm rõ ai là người đã trang bị đèn led, loa đài phòng sập để sử dụng ma túy để xem xét, đánh giá ai mới là người đã xây dựng, tạo lập phòng sập có các chức năng nghe nhạc, nghỉ ngơi cho người sử dụng ma túy (thu hút khách sử dụng ma tuý đến thuê phòng) cũng việc chứng minh hành vi của bị cáo T7 có đủ cấu thành tội phạm hay không, nếu có thì vai trò của bị cáo T trong vụ án này như thế nào hay hành vi của bị cáo có dấu hiệu cấu thành tội khác theo quy định của Bộ luật hình sự.
(iv) Việc các đối tượng Trần Tuấn A đến thuê phòng thông qua hình thức nào, ai tiếp nhận đặt phòng, ai thu tiền, tại thời điểm các đối tượng Trần Tuấn A đến thuê phòng có những ai có mặt; khi kiểm tra T có mặt trong phòng các đối tượng sử dụng ma túy hay không?
(v) Tại bút lục số 181 thể hiện: Hoàng Hữu D có mặt lúc 23 giờ 03’ tại quầy ba nhưng cơ quan điều tra không thu thập việc T4, D có theo dõi camera các phòng không. Đến 0 giờ 06’ D, T và Tuấn A nói chuyện nhưng khi lập biên bản kiểm tra vào hồi 1 giờ 00’ lại không thể hiện có mặt Hoàng Hữu D.
Ngoài ra trong quá trình tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm còn có vi phạm, thiếu sót sau:
(vii) Các biểm bản có việc tẩy xóa, sửa chữa: Tại biên bản kiểm tra hành chính chữa thời gian và địa điểm (bút lục số 97); các biên bản xét nghiệm nhanh chất ma túy, biên bản niêm phong que thử nhanh ma túy sửa chữa thời gian (bút lục số 109, 111, 113, 114, 115, 116, 117, 122) và biên bản làm việc (bút lục số 156 nhưng không thể hiện có xác nhận bằng chữ ký của những người mà họ phải ký vào biên bản theo quy định tại Điều 102 BLTTHS.
(viii) Trong quá trình kiểm tra cơ sở kinh doanh quán K3 do Luyện Thị T4 thuê của anh Hoàng Tiến M không tiến hành lập biên bản đối với Hoàng Hữu D, thu thập Camera của quán Phantom theo quy định tại Điều 102 và Điều 195 BLTTHS.
(ix) Việc hoạt động tại quán K3 theo bị cáo T khai được chị Luyện Thị T4, anh Hoàng Hữu D lập nhóm Z có đưa bị cáo vào nhóm nên tất cả công việc hoạt động, điều hành, quản lý của quán điều được thực hiện trên Zalo nhưng Cơ quan điều tra không thu giữ điện thoại của T4, của D. Thậm chí khi thu giữ điện thoại của bị cáo Trần Văn T cơ quan điều tra không tiến hành kiểm tra, thu thập để làm rõ hoạt động, quản lý của quán, trên cơ sở đó để làm rõ hành vi của T4, D và T.
(x) Hành vi của T4, D có dấu hiệu đồng phạm với bị cáo T nên ngày 15/10/2021, ngày 11/7/2022, ngày 29/9/2022 và ngày 15/02/2022 đã được Toà án cấp sơ thẩm ra quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra làm rõ hành vi của T4, D có dấu hiệu của tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256 BLHS nhưng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Văn T và Toà án cấp sơ thẩm tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 298 BLTTHS quy định về giới hạn của việc xét xử nên Toà án cấp sơ thẩm không có lỗi.
(xi) Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, khi tạm giữ đối với Trần Văn T, Cơ quan điều tra đã không có tài liệu chứng minh việc thông báo về việc tạm giữ bị can cho gia đình theo quy định tại Điều 116 BLTTHS dẫn đến gia đình bị cáo không biết được bị cáo T đang bị tạm giữ, tạm giam nên đã có nhiều đơn phản ánh đến cơ quan, người có thẩm quyền về sự việc nêu trên.
(xii) Trong vụ án này bị cáo Trần Văn T bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y ngay khi lập biên bản kiểm tra. Việc bị cáo viết đơn ra đầu thú nhưng không được Cơ quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội đầu thú có trách nhiệm thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp theo quy định tại Điều 152 BLTTHS.
(xiii) Ngoài ra trong vụ án này chưa làm rõ hành vi của Giáp Thị X, sinh năm 1999, ở thôn T, huyện L, tỉnh Bắc Giang là chủ tài khoản có cho em chồng là Nông Thị L, sinh năm 1999, ở cùng địa chỉ mượn chứng minh thư nhân dân để mở tài khoản, hiện L đang sử dụng số tài khoản này đã thực hiện việc giao dịch chuyển tiền để mua ma tuý. Trong quá trình điều tra chưa làm rõ việc cho mượn giấy tờ để mở tài khoản X có biết không, có đồng ý không, ai là người đứng ra làm thủ tục mở tài khoản; việc chuyển tiền, việc giao dịch mua bán ma tuý trên các bên đã thực hiện như thế nào để làm rõ hành vi của X, L có dấu hiệu đồng phạm về tội tổ chức sử dụng chất ma tuý theo quy định tại Điều 255 hay không hay có dấu hiệu của tội tàng trữ, mua bán chất ma tuý theo quy định tại Điều 249, Điều 251 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
(xiv) Căn cứ Điều 3 Thông tư 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14 tháng 11 năm 2015 của Bộ C2, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp cần làm rõ hành vi của chị Luyện Thị T4, anh Hoàng Hữu D và Trần Văn T có dấu hiệu phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” hay không, hay các đối tượng đóng vai trò gì đối với hành vi để cho nhóm của Trần Tuấn A tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại địa điểm nêu trên nhằm xác định sự thật của vụ án được quy định tại Điều 15 BLTTHS.