Thực hiện công bố thông tin và tạm hoãn công bố thông tin của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?

Thực hiện công bố thông tin và tạm hoãn công bố thông tin của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi hiện là Tổng giám đốc của doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh và đang chuẩn bị cho công tác công bố thông tin. Liên quan đến vấn đề này, pháp luật quy định như thế nào về thực hiện công bố thông tin và tạm hoãn công bố thông tin của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh? Rất mong Luật sư giải đáp. Xin cảm ơn!

MỤC LỤC

1. Doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh thực hiện công bố thông tin như thế nào?

2. Việc tạm hoãn công bố thông tin của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

1. Doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh thực hiện công bố thông tin như thế nào?

Việc công bố thông tin của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh phải được thực hiện theo luật định. Nội dung về thực hiện công bố thông tin của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được ghi nhận tại Điều 11 Thông tư số 06/2024/TT-BQP ngày 24/01/2024 của Bộ Quốc phòng về hướng dẫn thực hiện chế độ báo cáo, công bố thông tin, kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng (sau đây gọi tắt là "Thông tư số 06/2024/TT-BQP"), cụ thể như sau:

"Điều 11. Thực hiện công bố thông tin

1. Trước ngày 30 tháng 6 hằng năm, doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh có trách nhiệm lập báo cáo, đăng tải các thông tin công bố định kỳ quy định tại khoản 1 Điều 9 Thông tư này, cập nhật thông tin cơ bản về doanh nghiệp, Điều lệ công ty, các mẫu biểu điện tử trên Trang thông tin điện tử của doanh nghiệp, Cổng thông tin doanh nghiệp đúng thời hạn; đồng thời, gửi báo cáo công bố thông tin đến Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng để đăng tải công bố và đồng gửi cơ quan, đơn vị liên quan theo chế độ báo cáo công bố thông tin quy định tại Mục 1 Phụ lục I kèm theo Thông tư này để theo dõi, giám sát.

2. Doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh có trách nhiệm lập báo cáo, thực hiện công bố các thông tin phải công bố định kỳ quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư này trên Trang thông tin điện tử của doanh nghiệp, Cổng thông tin doanh nghiệp đúng thời hạn; đồng thời, gửi báo cáo công bố thông tin đến Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng để đăng tải công bố và đồng gửi cơ quan, đơn vị có liên quan theo chế độ báo cáo công bố thông tin của loại hình doanh nghiệp tương ứng quy định tại Mục 1, Mục 2 Phụ lục I kèm theo Thông tư này để theo dõi, giám sát.

Đối với nội dung không được Bộ Quốc phòng quyết định hạn chế công bố thông tin theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 9, khoản 2 Điều 10 Thông tư này, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh tổng hợp bổ sung vào báo cáo công bố thông tin định kỳ đối với nội dung chưa đến thời hạn công bố hoặc lập báo công bố thông tin bổ sung và thực hiện công bố thông tin ngay sau khi nhận được văn bản quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về nội dung hạn chế công bố thông tin.

3. Trường hợp thời điểm thực hiện công bố thông tin trùng vào ngày nghỉ, ngày lễ, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin vào ngày làm việc đầu tiên ngay sau ngày nghỉ, ngày lễ kết thúc theo quy định pháp luật."

Dẫn chiếu đến Điều 9 và khoản 2 Điều 10 Thông tư số 06/2024/TT-BQP  quy định như sau:

"Điều 9. Các thông tin công bố định kỳ

1. Đối với doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh thực hiện theo quy định sau:

a) Nội dung báo cáo, công bố thông tin định kỳ thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị định số 16/2023/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2023 của Chính phủ về tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp) kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh; sửa đổi quy định tại điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp (sau đây viết gọn là Nghị định số 16/2023/NĐ-CP);

b) Báo cáo công bố thông tin định kỳ theo Mẫu số 04/ĐC Phụ lục II kèm theo Thông tư này.

2. Đối với doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh thực hiện theo quy định sau:

a) Doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ định kỳ công bố thông tin theo nội dung, mẫu biểu và thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Điều 13 Nghị định số 16/2023/NĐ-CP;

b) Doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ định kỳ công bố thông tin theo nội dung, mẫu biểu và thời hạn quy định tại các điểm a, c, đ, e và h khoản 1 Điều 23 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP;

c) Đối với nội dung quan trọng, hoặc liên quan đến bí mật nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh quốc gia, bí mật kinh doanh, doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh phải loại trừ ra khỏi báo cáo công bố thông tin định kỳ và tổng hợp, lập báo cáo nội dung hạn chế công bố thông tin theo Mẫu số 05/ĐC Phụ lục II kèm theo Thông tư này, báo cáo Bộ Quốc phòng (đối với doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh trực thuộc Bộ Quốc phòng) hoặc đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng được giao quản lý doanh nghiệp và gửi Cục Kinh tế, Cục Bảo vệ an ninh Quân đội trước ngày 31 tháng 3 của năm liền kề sau năm thực hiện.

Trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận báo cáo của doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh (đối với doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng quản lý) hoặc phiếu chuyển văn bản của Văn phòng Bộ Quốc phòng (đối với doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh trực thuộc Bộ Quốc phòng), Cục Kinh tế chủ trì, phối hợp với Cục Bảo vệ an ninh Quân đội và cơ quan, đơn vị có liên quan thẩm định, báo cáo Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xem xét, quyết định nội dung hạn chế công bố thông tin, gửi thông báo đến doanh nghiệp thực hiện, thông báo cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo dõi, giám sát."

Và

"Điều 10. Các thông tin công bố bất thường

…

2. Trong thời hạn 36 (ba mươi sáu) giờ, kể từ khi xảy ra một trong các sự kiện quy định tại các điểm a, b, đ, e khoản 1 Điều 110 Luật Doanh nghiệp, trường hợp có nội dung quan trọng, liên quan hoặc ảnh hưởng đến bí mật nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh quốc gia, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh lập báo cáo nội dung cần hạn chế công bố thông tin theo Mẫu số 05/ĐC Phụ lục II kèm theo Thông tư này, báo cáo Bộ Quốc phòng (đối với doanh nghiệp quốc phòng, an ninh trực thuộc Bộ Quốc phòng), hoặc đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng được giao quản lý doanh nghiệp và gửi Cục Kinh tế, Cục Bảo vệ an ninh Quân đội để thẩm định, xem xét, quyết định nội dung hạn chế công bố thông tin bất thường.

Trong thời hạn 07 (bảy) ngày, kể từ ngày nhận báo cáo của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh (đối với doanh nghiệp quốc phòng, an ninh do đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng quản lý), hoặc phiếu chuyển văn bản của Văn phòng Bộ Quốc phòng (đối với doanh nghiệp quốc phòng, an ninh trực thuộc Bộ Quốc phòng), Cục Kinh tế chủ trì, phối hợp với Cục Bảo vệ an ninh Quân đội và cơ quan, đơn vị có liên quan thẩm định, báo cáo Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xem xét, quyết định nội dung hạn chế công bố thông tin bất thường, gửi thông báo đến doanh nghiệp thực hiện, thông báo cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo dõi, giám sát."

* Lưu ý: Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Bộ Tài chính được hợp nhất thành Bộ Tài chính (căn cứ mục 2.3 Phần II Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và khoản 6 Điều 1 Nghị quyết số 176/2025/QH15 ngày 18/02/2025 của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV).

Theo đó, trước ngày 30/06 hằng năm, doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh có trách nhiệm lập báo cáo, đăng tải các thông tin công bố định kỳ theo Thông tư số 06/2024/TT-BQP, cập nhật thông tin cơ bản về doanh nghiệp, Điều lệ công ty, các mẫu biểu điện tử trên Trang thông tin điện tử của doanh nghiệp, Cổng thông tin doanh nghiệp đúng thời hạn. Đồng thời, doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh gửi báo cáo công bố thông tin đến Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng để đăng tải công bố và đồng gửi cơ quan, đơn vị liên quan theo chế độ báo cáo công bố thông tin theo Danh mục chế độ báo cáo định kỳ của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh tại Mục 1 Phụ lục I kèm theo Thông tư số 06/2024/TT-BQP để theo dõi, giám sát.

Việc xác định thời hạn công bố định kỳ trước ngày 30/06 hằng năm tạo một khoảng thời gian hợp lý sau khi kết thúc năm tài chính để doanh nghiệp có thể tổng hợp, kiểm tra, rà soát và hoàn thiện thông tin công bố định kỳ một cách kỹ lưỡng. Ngoài ra, doanh nghiệp tiến hành đăng tải trên nhiều kênh khác nhau sẽ tạo điều kiện để cơ quan quản lý doanh nghiệp và các chủ thể quan tâm có thể dễ dàng tiếp cận thông tin được công bố. Qua đó, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan đại diện chủ sở hữu có cơ sở theo dõi tình hình hoạt động của doanh nghiệp theo định kỳ.

Đối với doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh, doanh nghiệp này có trách nhiệm lập báo cáo, thực hiện công bố các thông tin phải công bố định kỳ theo Thông tư số 06/2024/TT-BQP trên Trang thông tin điện tử của doanh nghiệp, Cổng thông tin doanh nghiệp đúng thời hạn, đồng thời, gửi báo cáo công bố thông tin đến Cổng Thông tin điện tử Bộ Quốc phòng để đăng tải công bố và đồng gửi cơ quan, đơn vị có liên quan theo chế độ báo cáo công bố thông tin của loại hình doanh nghiệp tương ứng theo Danh mục chế độ báo cáo định kỳ của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh tại Mục 1, Mục 2 Phụ lục I kèm theo Thông tư này để theo dõi, giám sát. Việc yêu cầu doanh nghiệp thực hiện công bố thông tin trên các kênh thông tin khác nhau và gửi báo cáo đến các cơ quan, đơn vị có liên quan góp phần bảo đảm hiệu quả giám sát đối với doanh nghiệp. Nhờ đó, cơ quan quản lý có thể kịp thời nắm bắt tình hình hoạt động, giám sát việc chấp hành nghĩa vụ công bố thông tin, hạn chế tình trạng doanh nghiệp công bố không đầy đủ hoặc không đúng thời hạn.

Bên cạnh đó, đối với nội dung không được Bộ Quốc phòng quyết định hạn chế công bố thông tin theo Thông tư số 06/2024/TT-BQP, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh tổng hợp bổ sung vào báo cáo công bố thông tin định kỳ đối với nội dung chưa đến thời hạn công bố hoặc lập báo công bố thông tin bổ sung và thực hiện công bố thông tin ngay sau khi nhận được văn bản quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về nội dung hạn chế công bố thông tin. Có thể thấy, mọi thông tin không thuộc phạm vi bí mật nhà nước hoặc bí mật kinh doanh cần hạn chế công bố thông tin đều phải được công khai sau khi có quyết định của Bộ Quốc phòng. Điều này có thể hạn chế tình trạng doanh nghiệp lấy lý do bảo vệ bí mật và an ninh quốc gia để trì hoãn hoặc né tránh nghĩa vụ công bố thông tin. Hơn nữa, việc đưa ra hai hướng xử lý là tích hợp vào báo cáo định kỳ tiếp theo hoặc phát hành báo cáo bổ sung giúp doanh nghiệp chủ động lựa chọn hình thức phù hợp với tình hình thực tế, đồng thời, bảo đảm thông tin được công khai luôn kịp thời, phản ánh đầy đủ tình hình thực tế của doanh nghiệp.

Trong trường hợp thời điểm thực hiện công bố thông tin trùng vào ngày nghỉ, ngày lễ, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin vào ngày làm việc đầu tiên sau ngày nghỉ, ngày lễ kết thúc. Vào ngày nghỉ, ngày lễ, các bộ phận trong doanh nghiệp có thể không làm việc nên công tác chuẩn bị cho cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc công bố thông tin không được bảo đảm. Vì vậy, việc dời nghĩa vụ công bố thông tin vào ngày làm việc đầu tiên sau ngày nghỉ, ngày lễ kết thúc vừa bảo đảm cơ sở hạ tầng đáp ứng việc công bố thông tin, vừa tuân thủ nguyên tắc kịp thời trong công bố thông tin.

Nhìn chung, pháp luật đã thiết lập cơ chế công bố thông tin tương đối chặt chẽ, phù hợp với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh. Như vậy, doanh nghiệp không chỉ tăng tính chủ động trong việc thực hiện nghĩa vụ công khai, mà còn tăng cường khả năng theo dõi, giám sát của Bộ Quốc phòng và các cơ quan, đơn vị có liên quan. Qua đó, điều này góp phần bảo đảm tính minh bạch, kịp thời trong hoạt động công bố thông tin của doanh nghiệp, đồng thời duy trì sự cân bằng giữa yêu cầu công khai thông tin và bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh.

2. Việc tạm hoãn công bố thông tin của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định như thế nào?

Doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh phải thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin đúng thời hạn luật định. Tuy nhiên, khi xảy ra sự kiện bất khả kháng, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh có thể tạm hoãn công bố thông tin. Nội dung về tạm hoãn công bố thông tin của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh được đặt ra tại Điều 12 Thông tư số 06/2024/TT-BQP, cụ thể như sau:

"Điều 12. Tạm hoãn công bố thông tin

1. Trường hợp việc công bố thông tin không thể thực hiện đúng thời hạn vì lý do bất khả kháng (sự kiện bất khả kháng), trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày xảy ra sự kiện bất khả kháng, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh báo cáo Bộ Quốc phòng (đối với doanh nghiệp quốc phòng, an ninh trực thuộc Bộ Quốc phòng) hoặc đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng được giao quản lý doanh nghiệp và gửi Cục Kinh tế để thẩm định, xem xét, quyết định việc tạm hoãn công bố thông tin.

2. Đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng được giao quản lý doanh nghiệp thẩm định nội bộ, báo cáo Bộ Quốc phòng (qua Cục Kinh tế) việc tạm hoãn công bố thông tin của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh được giao quản lý trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận báo cáo của doanh nghiệp.

3. Trong thời hạn 07 (bảy) ngày, kể từ ngày nhận phiếu chuyển văn bản của Văn phòng Bộ Quốc phòng (đối với doanh nghiệp quốc phòng, an ninh trực thuộc Bộ Quốc phòng) hoặc báo cáo của đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng được giao quản lý doanh nghiệp, Cục Kinh tế chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên quan thẩm định, tổng hợp, báo cáo Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xem xét, quyết định việc tạm hoãn công bố thông tin, gửi thông báo đến doanh nghiệp thực hiện, thông báo cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo dõi, giám sát.

4. Doanh nghiệp quốc phòng, an ninh công bố trên Trang thông tin điện tử của doanh nghiệp việc tạm hoãn công bố thông tin, đồng thời thực hiện công bố thông tin ngay sau khi sự kiện bất khả kháng được khắc phục."

* Lưu ý: Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với Bộ Tài chính được hợp nhất thành Bộ Tài chính (căn cứ mục 2.3 Phần II Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và khoản 6 Điều 1 Nghị quyết số 176/2025/QH15 ngày 18/02/2025 của Quốc hội về cơ cấu tổ chức của Chính phủ nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV).

Theo đó, trường hợp việc công bố thông tin không thể thực hiện đúng thời hạn vì lý do bất khả kháng (sự kiện bất khả kháng), trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày xảy ra sự kiện bất khả kháng, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh báo cáo Bộ Quốc phòng (đối với doanh nghiệp quốc phòng, an ninh trực thuộc Bộ Quốc phòng) hoặc đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng được giao quản lý doanh nghiệp và gửi Cục Kinh tế để thẩm định, xem xét, quyết định việc tạm hoãn công bố thông tin. Thời hạn 03 ngày làm việc buộc người quản lý doanh nghiệp phải phản ứng nhanh, báo cáo kịp thời cho Bộ Quốc phòng hoặc đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng được giao quản lý doanh nghiệp để đưa ra quyết định kịp thời. Đây là căn cứ để doanh nghiệp quốc phòng, an ninh xin tạm hoãn nghĩa vụ công bố thông tin đúng quy trình, có thể tránh việc bị xử lý do không công bố thông tin đúng thời hạn.

Sau khi nhận được báo cáo về việc tạm hoãn công bố thông tin của doanh nghiệp, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng được giao quản lý doanh nghiệp tiến hành thẩm định nội bộ, báo cáo Bộ Quốc phòng thông qua Cục Kinh tế về vấn đề tạm hoãn trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận báo cáo của doanh nghiệp. Thời hạn 05 ngày làm việc là khoảng thời gian phù hợp để đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng xem xét kỹ lưỡng báo cáo, căn cứ đề nghị tạm hoãn công bố thông tin của doanh nghiệp, đồng thời, vẫn bảo đảm việc thẩm định được kịp thời, không làm chậm trễ quá trình đề nghị tạm hoãn công bố thông tin của doanh nghiệp.

Sau đó, trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận phiếu chuyển văn bản của Văn phòng Bộ Quốc phòng (đối với doanh nghiệp quốc phòng, an ninh trực thuộc Bộ Quốc phòng) hoặc báo cáo của đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng được giao quản lý doanh nghiệp, Cục Kinh tế chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên quan thẩm định, tổng hợp, báo cáo Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xem xét, quyết định việc tạm hoãn công bố thông tin, gửi thông báo đến doanh nghiệp thực hiện, thông báo cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo dõi, giám sát. Thời hạn như trên có thể giúp các cơ quan có điều kiện thẩm định căn cứ đề nghị tạm hoãn công bố thông tin, đánh giá tính chất và mức độ cần thiết của việc tạm hoãn, từ đó báo cáo cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xem xét, đưa ra quyết định phù hợp. Đồng thời, việc quy định thời hạn cụ thể còn góp phần bảo đảm quá trình thẩm định được thực hiện có trình tự, tránh kéo dài gây ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài ra, việc giao Cục Kinh tế chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan có thể tận dụng chuyên môn và kinh nghiệm quản lý của các đơn vị trong quá trình thẩm định, qua đó nâng cao tính chính xác, khách quan và hiệu quả của việc xem xét đề nghị tạm hoãn công bố thông tin.

Khi nhận được thông báo về việc quyết định tạm hoãn công bố thông tin, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh công bố trên Trang thông tin điện tử của doanh nghiệp việc tạm hoãn công bố thông tin. Thông báo việc tạm hoãn công bố thông tin trên Trang thông tin điện tử của doanh nghiệp sẽ giúp các chủ thể quan tâm đến doanh nghiệp nắm rõ lý do chậm trễ công bố thông tin. Ngay sau khi sự kiện bất khả kháng được khắc phục, doanh nghiệp thực hiện công bố thông tin theo luật định. Điều này cho thấy việc tạm hoãn chỉ mang tính chất tạm thời, không đồng nghĩa với việc không thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin của doanh nghiệp.

Như vậy, quy định về tạm hoãn công bố thông tin tạo điều kiện để doanh nghiệp xử lý những trở ngại khách quan mà không vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin của doanh nghiệp. Việc đặt ra các điều kiện, trình tự và thời hạn cụ thể cũng góp phần ngăn ngừa tình trạng lợi dụng lý do bất khả kháng để trì hoãn việc công khai thông tin. Đồng thời, việc yêu cầu doanh nghiệp tiếp tục công bố thông tin ngay sau khi nguyên nhân tạm hoãn được khắc phục bảo đảm nghĩa vụ công bố không bị gián đoạn kéo dài, qua đó, bảo đảm nguyên tắc kịp thời trong thực hiện công bố thông tin.

Trân trọng./.