Chủ thể kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?

Chủ thể kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi là người lao động đang làm việc tại một doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh. Trong quá trình tìm hiểu về cơ chế quản lý và hoạt động của doanh nghiệp, tôi muốn biết những cơ quan, tổ chức và cá nhân nào được giao thực hiện việc kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh? Rất mong Luật sư tư vấn. Xin cảm ơn!

MỤC LỤC

1. Cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng là gì?

2. Chủ thể kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?

 

Trả lời:

1. Cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng là gì?

Trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp quốc phòng, an ninh, Bộ Quốc phòng cần có cơ quan hỗ trợ việc quản lý, giám sát và các trách nhiệm khác. Những cơ quan giúp việc này được gọi là cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng và được giải thích cụ thể tại khoản 1 Điều 3 Thông tư số 06/2024/TT-BQP ngày 24/01/2024 của Bộ Quốc phòng về hướng dẫn thực hiện chế độ báo cáo, công bố thông tin, kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng (sau đây gọi tắt là "Thông tư số 06/2024/TT-BQP") như sau:

"Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng là cơ quan tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Bộ Quốc phòng quyết định thành lập hoặc được giao quản lý và thực hiện quyền, trách nhiệm đối với phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

…"

Theo đó, cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng là cơ quan tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Bộ Quốc phòng quyết định thành lập hoặc được giao quản lý và thực hiện quyền, trách nhiệm đối với phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Có thể hiểu, cơ quan chức năng không đóng vai trò là cơ quan đại diện chủ sở hữu mà thực hiện chức năng tham mưu, hỗ trợ Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong phạm vi nhiệm vụ được giao. Về phạm vi trách nhiệm, cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng được giao nhiệm vụ tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đối với hai nhóm phạm vi sau:

- Thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Bộ Quốc phòng quyết định thành lập hoặc giao quản lý;

- Thực hiện quyền, trách nhiệm đối với phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

Nội dung tham mưu của cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng có thể xem là bao quát toàn diện hoạt động quản lý của Bộ Quốc phòng tại doanh nghiệp. Qua đó, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có sự hỗ trợ cần thiết trong quá trình xem xét, quyết định và thực hiện các công việc thuộc thẩm quyền. Như vậy, việc có cơ quan chức năng giúp việc cho Bộ Quốc phòng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp, quản lý vốn nhà nước và bảo đảm sự thống nhất trong hoạt động thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu của Bộ Quốc phòng.

2. Chủ thể kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh được quy định thực hiện như thế nào?

Mỗi nội dung kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh cần được thực hiện bởi chủ thể có chuyên môn và chức năng phù hợp với lĩnh vực được kiểm tra, giám sát. Pháp luật đã xác định rõ chủ thể kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh tại Điều 14 Thông tư 06/2024/TT-BQP, cụ thể như sau:

"Điều 14. Chủ thể kiểm tra, giám sát

1. Bộ Quốc phòng thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước trong việc kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng được giao quản lý doanh nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ, giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện quyền, trách nhiệm kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng như sau:

a) Cục Kinh tế chủ trì, kiểm tra, giám sát nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h và m khoản 1, các điểm a, b, c, d, đ, e, g và l khoản 2 Điều 13 Thông tư này;

b) Cục Tài chính chủ trì, kiểm tra, giám sát nội dung quy định tại điểm i, điểm m khoản 1 và điểm h, điểm l khoản 2 Điều 13 Thông tư này;

c) Cục Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, kiểm tra, giám sát nội dung quy định tại điểm k, điểm m khoản 1 và điểm i, điểm l khoản 2 Điều 13 Thông tư này;

d) Cục Quân lực chủ trì, kiểm tra, giám sát nội dung quy định tại điểm l, điểm m khoản 1 và điểm k, điểm l khoản 2 Điều 13 Thông tư này;

đ) Đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng được giao quản lý doanh nghiệp thực hiện quyền, trách nhiệm kiểm tra, giám sát toàn diện các nội dung tương ứng theo từng loại hình doanh nghiệp quốc phòng, an ninh được giao quản lý quy định tại Điều 13 Thông tư này.

3. Người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, Người đại diện phần vốn nhà nước thực hiện quyền, trách nhiệm kiểm tra, giám sát các nội dung tương ứng theo từng loại hình doanh nghiệp quốc phòng, an ninh quy định tại Điều 13 Thông tư này; nội dung khác theo quy định của Bộ Quốc phòng, Điều lệ công ty, Quy chế tài chính của doanh nghiệp, Quy chế hoạt động của Người đại diện được cấp có thẩm quyền phê duyệt và quy định khác của pháp luật có liên quan.

4. Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thực hiện nghĩa vụ, quyền, trách nhiệm kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp theo quy định tại Điều 15 Thông tư này và quy định khác của pháp luật có liên quan."

Dẫn chiếu đến Điều 13 và Điều 15 Thông tư 06/2024/TT-BQP quy định như sau:

"Điều 13. Nội dung kiểm tra, giám sát

1. Đối với doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, công tác kiểm tra, giám sát bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

a) Tình hình, kết quả thực hiện chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư phát triển 05 năm, kế hoạch sản xuất kinh doanh hằng năm và ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

b) Tình hình, kết quả thực hiện đề án, phương án cơ cấu lại doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

c) Việc chấp hành chế độ báo cáo, công bố thông tin của doanh nghiệp;

d) Công tác tổ chức quản lý, quản trị nội bộ của doanh nghiệp;

đ) Cơ chế phối hợp, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp theo Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

e) Tình hình, kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với người quản lý, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp; quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng và các chế độ, chính sách liên quan đến người lao động, người quản lý doanh nghiệp và Kiểm soát viên;

g) Tình hình, kết quả hoạt động đầu tư liên doanh với đối tác nước ngoài tại Việt Nam và đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp; chấp hành quy định của pháp luật, Bộ Quốc phòng về hợp tác quốc tế khi liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân nước ngoài;

h) Tình hình quản lý, sử dụng đất do Nhà nước giao, cho thuê vào mục đích kinh doanh và việc sử dụng đất quốc phòng theo phương án, hợp đồng sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

i) Giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp; quản lý, sử dụng nguồn lực được giao không tính vào phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật có liên quan;

k) Tình hình, kết quả thực hiện dự án đầu tư, mua sắm, thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, chuyển nhượng dự án của doanh nghiệp;

l) Tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh theo kế hoạch hằng năm được Bộ Quốc phòng trực tiếp hoặc thông qua cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng phê duyệt, giao nhiệm vụ, đặt hàng;

m) Nội dung khác theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng và quy định của pháp luật có liên quan.

2. Đối với doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, công tác kiểm tra, giám sát thực hiện thông qua Người đại diện phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

a) Tình hình, kết quả thực hiện chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư phát triển trung và dài hạn, kế hoạch sản xuất kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp theo nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông (Hội đồng thành viên), Hội đồng quản trị;

b) Tình hình, kết quả thực hiện đề án, phương án cơ cấu lại doanh nghiệp được Đại hội đồng cổ đông (Hội đồng thành viên) phê duyệt;

c) Việc chấp hành chế độ báo cáo, công bố thông tin của doanh nghiệp;

d) Hoạt động của Người đại diện phần vốn nhà nước theo Quy chế hoạt động được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

đ) Tình hình, kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với Người đại diện phần vốn nhà nước; quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng và các chế độ, chính sách liên quan đến người lao động, Người đại diện phần vốn nhà nước;

e) Chấp hành quy định của pháp luật, Bộ Quốc phòng về hợp tác quốc tế khi thực hiện hoạt động liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân nước ngoài;

g) Tình hình quản lý, sử dụng đất do Nhà nước giao, cho thuê vào mục đích kinh doanh và việc sử dụng đất quốc phòng theo phương án, hợp đồng sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

h) Giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp;

i) Tình hình, kết quả thực hiện dự án đầu tư, mua sắm, thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, chuyển nhượng dự án theo nghị quyết, hoặc quyết định của Đại hội đồng cổ đông (Hội đồng thành viên), Hội đồng quản trị;

k) Tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh được Bộ Quốc phòng trực tiếp hoặc thông qua cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng phê duyệt, giao nhiệm vụ, đặt hàng;

l) Nội dung khác theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng và quy định của pháp luật có liên quan."

"Điều 15. Nội dung kiểm tra, giám sát của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp

Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ kiểm tra, giám sát nội dung quy định tại Điều 104 Luật Doanh nghiệp; Điều 9 Nghị định số 47/2021/NĐ-CP; khoản 3 Điều 9 Nghị định số 51/2016/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ quy định quản lý lao động, tiền lương và tiền thưởng đối với người lao động làm việc trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; khoản 2 Điều 9 Nghị định số 52/2016/NĐ-CP ngày 13 tháng 6 năm 2016 của Chính phủ quy định tiền lương, thù lao, tiền thưởng đối với người quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; nội dung khác theo quy định của Bộ Quốc phòng, Điều lệ công ty, Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát được cấp có thẩm quyền phê duyệt."

Theo đó, Bộ Quốc phòng thực hiện quyền, trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước trong việc kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý theo Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan. Thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát, Bộ Quốc phòng có cơ sở theo dõi tình hình hoạt động, đánh giá việc chấp hành pháp luật và tiến độ thực hiện các nhiệm vụ giao cho doanh nghiệp quốc phòng, an ninh. Đồng thời, Bộ Quốc phòng có thể kịp thời phát hiện những vấn đề còn tồn đọng hoặc cần xử lý, góp phần tăng cường hiệu quả quản lý, bảo đảm hoạt động của doanh nghiệp phù hợp với việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

Bên cạnh đó, cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng được giao quản lý doanh nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ, giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện quyền, trách nhiệm kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng như sau:

Thứ nhất, Cục Kinh tế chủ trì, kiểm tra, giám sát các nội dung sau:

- Đối với doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, công tác kiểm tra, giám sát bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

+ Tình hình, kết quả thực hiện chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư phát triển 05 năm, kế hoạch sản xuất kinh doanh hằng năm và ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

+ Tình hình, kết quả thực hiện đề án, phương án cơ cấu lại doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

+ Việc chấp hành chế độ báo cáo, công bố thông tin của doanh nghiệp;

+ Công tác tổ chức quản lý, quản trị nội bộ của doanh nghiệp;

+ Cơ chế phối hợp, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp theo Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

+ Tình hình, kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với người quản lý, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp; quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng và các chế độ, chính sách liên quan đến người lao động, người quản lý doanh nghiệp và Kiểm soát viên;

+ Tình hình, kết quả hoạt động đầu tư liên doanh với đối tác nước ngoài tại Việt Nam và đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp; chấp hành quy định của pháp luật, Bộ Quốc phòng về hợp tác quốc tế khi liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân nước ngoài;

+ Tình hình quản lý, sử dụng đất do Nhà nước giao, cho thuê vào mục đích kinh doanh và việc sử dụng đất quốc phòng theo phương án, hợp đồng sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

+ Nội dung khác theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng và quy định của pháp luật có liên quan.

- Đối với doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ các nội dung kiểm tra, giám sát bao gồm:

+ Tình hình, kết quả thực hiện chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư phát triển trung và dài hạn, kế hoạch sản xuất kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp theo nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông (Hội đồng thành viên), Hội đồng quản trị;

+ Tình hình, kết quả thực hiện đề án, phương án cơ cấu lại doanh nghiệp được Đại hội đồng cổ đông (Hội đồng thành viên) phê duyệt;

+ Việc chấp hành chế độ báo cáo, công bố thông tin của doanh nghiệp;

+ Hoạt động của Người đại diện phần vốn nhà nước theo Quy chế hoạt động được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

+ Tình hình, kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với Người đại diện phần vốn nhà nước; quản lý lao động, tiền lương, thù lao, tiền thưởng và các chế độ, chính sách liên quan đến người lao động, Người đại diện phần vốn nhà nước;

+ Chấp hành quy định của pháp luật, Bộ Quốc phòng về hợp tác quốc tế khi thực hiện hoạt động liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân nước ngoài;

+ Tình hình quản lý, sử dụng đất do Nhà nước giao, cho thuê vào mục đích kinh doanh và việc sử dụng đất quốc phòng theo phương án, hợp đồng sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

+ Nội dung khác theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng và quy định của pháp luật có liên quan.

Thứ hai, Cục Tài chính chủ trì, kiểm tra, giám sát các nội dung sau:

- Đối với doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, công tác kiểm tra, giám sát bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

+ Giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp; quản lý, sử dụng nguồn lực được giao không tính vào phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và pháp luật có liên quan;

+ Nội dung khác theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng và quy định của pháp luật có liên quan.

- Đối với doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ các nội dung kiểm tra, giám sát bao gồm:

+ Giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp;

+ Nội dung khác theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng và quy định của pháp luật có liên quan.

Thứ ba, Cục Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, kiểm tra, giám sát nội dung sau:

- Đối với doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, công tác kiểm tra, giám sát bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

+ Tình hình, kết quả thực hiện dự án đầu tư, mua sắm, thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, chuyển nhượng dự án của doanh nghiệp;

+ Nội dung khác theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng và quy định của pháp luật có liên quan.

- Đối với doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ các nội dung kiểm tra, giám sát bao gồm:

+ Tình hình, kết quả thực hiện dự án đầu tư, mua sắm, thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, chuyển nhượng dự án theo nghị quyết, hoặc quyết định của Đại hội đồng cổ đông (Hội đồng thành viên), Hội đồng quản trị;

+ Nội dung khác theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng và quy định của pháp luật có liên quan.

Thứ tư, Cục Quân lực chủ trì, kiểm tra, giám sát nội dung sau:

- Đối với doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, công tác kiểm tra, giám sát bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

+ Tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh theo kế hoạch hằng năm được Bộ Quốc phòng trực tiếp hoặc thông qua cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng phê duyệt, giao nhiệm vụ, đặt hàng;

+ Nội dung khác theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng và quy định của pháp luật có liên quan.

- Đối với doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ các nội dung kiểm tra, giám sát bao gồm:

+ Tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh được Bộ Quốc phòng trực tiếp hoặc thông qua cơ quan chức năng, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng phê duyệt, giao nhiệm vụ, đặt hàng;

+ Nội dung khác theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng và quy định của pháp luật có liên quan.

Thứ năm, đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng được giao quản lý doanh nghiệp thực hiện quyền, trách nhiệm kiểm tra, giám sát toàn diện các nội dung tương ứng theo từng loại hình doanh nghiệp quốc phòng, an ninh được giao quản lý tại Điều 13 Thông tư số 06/2024/TT-BQP.

Có thể thấy, việc giao các cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng chủ trì kiểm tra, giám sát theo từng nhóm nội dung thể hiện sự phân công nhiệm vụ dựa trên chức năng và chuyên môn của mỗi cơ quan. Cách phân công này xuất phát từ đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp quốc phòng, an ninh. Bởi lẽ, bên cạnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ quốc phòng, an ninh và thực hiện các nhiệm vụ được giao, doanh nghiệp còn phải thực hiện các hoạt động chuyên môn về kinh tế, tài chính, đầu tư,... Do đó, không thể chỉ dựa vào một cơ quan để xem xét toàn bộ các khía cạnh hoạt động của doanh nghiệp mà cần có sự tham gia của các cơ quan có chuyên môn tương ứng.

Cụ thể, việc giao Cục Kinh tế phụ trách các vấn đề về tổ chức, quản trị và hoạt động sản xuất, kinh doanh giúp việc kiểm tra, giám sát tập trung vào quá trình tổ chức và vận hành doanh nghiệp. Trong khi đó, Cục Tài chính và Cục Kế hoạch và Đầu tư đảm nhiệm các lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn sâu về quản lý tài chính, sử dụng nguồn lực và hoạt động đầu tư. Đối với Cục Quân lực, việc phụ trách kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh giúp bảo đảm doanh nghiệp hoàn thành nhiệm vụ do Bộ Quốc phòng giao.

Riêng đối với đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng được giao quản lý doanh nghiệp, việc thực hiện kiểm tra, giám sát toàn diện theo từng loại hình doanh nghiệp có ý nghĩa duy trì sự theo dõi tổng thể và xuyên suốt đối với doanh nghiệp thuộc phạm vi được giao. Nếu các cơ quan chức năng chủ yếu tập trung vào những lĩnh vực chuyên môn cụ thể thì đơn vị đầu mối có điều kiện xem xét đồng thời nhiều mặt hoạt động của doanh nghiệp, nhận diện mối liên hệ giữa các vấn đề và tổng hợp tình hình phục vụ công tác quản lý.

Ngoài ra, Người đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, Người đại diện phần vốn nhà nước thực hiện quyền, trách nhiệm kiểm tra, giám sát các nội dung tương ứng theo từng loại hình doanh nghiệp quốc phòng, an ninh quy định tại Điều 13 Thông tư này; nội dung khác theo quy định của Bộ Quốc phòng, Điều lệ công ty, Quy chế tài chính của doanh nghiệp, Quy chế hoạt động của Người đại diện được cấp có thẩm quyền phê duyệt và quy định khác của pháp luật có liên quan. Các chủ thể này có điều kiện tiếp cận, nắm bắt thường xuyên tình hình hoạt động, tổ chức và quản lý tại doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, họ có thể theo dõi sát việc thực hiện các nhiệm vụ được giao, đánh giá tình hình hoạt động thực tế và kịp thời nhận diện những bất cập, hạn chế hoặc dấu hiệu vi phạm trong quá trình doanh nghiệp vận hành. Khi phát hiện vấn đề phát sinh, những cá nhân này có trách nhiệm báo cáo, phản ánh đến Bộ Quốc phòng hoặc đơn vị đầu mối trực thuộc Bộ Quốc phòng được giao quản lý doanh nghiệp để xem xét, chỉ đạo và xử lý theo thẩm quyền.

Đối với kiểm soát nội bộ, Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và doanh nghiệp kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thực hiện nghĩa vụ, quyền, trách nhiệm kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp theo nội dung kiểm tra, giám sát của Ban kiểm soát, Kiểm soát viên tại doanh nghiệp Điều 15 Thông tư 06/2024/TT-BQP và pháp luật có liên quan. Ban Kiểm soát là đơn vị độc lập với bộ máy quản lý, điều hành tại doanh nghiệp, hạn chế sự chi phối từ doanh nghiệp. Điều này tạo điều kiện để hoạt động kiểm tra, giám sát được thực hiện khách quan, trung thực và phản ánh đúng thực trạng hoạt động của doanh nghiệp.

Như vậy, hoạt động kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp quốc phòng, an ninh thuộc Bộ Quốc phòng được thực hiện với sự tham gia của nhiều chủ thể. Việc phân công nhiệm vụ theo lĩnh vực chuyên môn, kết hợp với hoạt động theo dõi toàn diện của đơn vị đầu mối và sự giám sát trực tiếp của người đại diện, Ban kiểm soát, Kiểm soát viên giúp các hoạt động của doanh nghiệp được xem xét trên nhiều phương diện và ở những cấp độ khác nhau. Qua đó, chế độ kiểm tra, giám sát góp phần nâng cao hiệu quả phát hiện, phòng ngừa và xử lý những bất cập, vi phạm, đồng thời hỗ trợ Bộ Quốc phòng kiểm soát việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước và bảo đảm doanh nghiệp thực hiện đúng các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được giao.

Trân trọng./.