THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 41/TB-VC1-V4 NGÀY 17/5/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỤ ÁN LAO ĐỘNG TRANH CHẤP VỀ CHỐT VÀ TRẢ SỔ BẢO HIỂM XÃ HỘI

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Tại Đơn khởi kiện, ông Lê Văn T chỉ đề nghị xem xét lại việc Công ty TH áp dụng hình thức kỷ luật “Sa thải” mà không đề nghị giải quyết chế độ sau sa thải đối với ông, trong đó có chế độ bảo hiểm xã hội. Quyết định kỷ luật số 31/QĐKL ngày 26/3/1999 và Bản án sơ thẩm số 01/LĐ ngày 07/4/2000 của Tòa án nhân dân huyện HT, Bản án phúc thẩm số 02/PTLĐ ngày 15/5/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh TH cũng đều không đề cập đến việc giải quyết chế độ sau sa thải đối với ông Lê Văn T. Ngoài ra, từ năm 1999 đến trước năm 2017, không có tài liệu nào thể hiện ông Lê Văn T và Công ty TH có yêu cầu, đề nghị hoặc từ chối giải quyết độ bảo hiểm cho ông Lê Văn T sau khi sa thải. Do ông Lê Văn T chưa yêu cầu và Công ty TH chưa giải quyết hoặc đề nghị giải quyết chế độ bảo hiểm sau sa thải cho ông Lê Văn T nên chưa có cơ sở xác định thời điểm ông Lê Văn T phát hiện quyền, lợi ích hợp pháp về bảo hiểm xã hội của mình bị Công ty TH xâm phạm. Do vậy, đề nghị của Công ty TH về việc tính thời hiệu đối với việc khởi kiện của ông Lê Văn T từ ngày 26/3/1999 (ngày ban hành Quyết định số kỷ luật số 31/QĐKL) là không có cơ sở.

Tháng 5/2017, ông Lê Văn T có yêu cầu Công ty TH giải quyết chế độ bảo hiểm sau sa thải cho ông nhưng Công ty TH từ chối giải quyết. Đến tháng 12/2017, ông Lê Văn T khởi kiện đối với hành vi không giải quyết chế độ bảo hiểm của Công ty TH là vẫn còn trong thời hiệu 01 năm theo quy định tại khoản 2 Điều 202 Bộ luật lao động.

Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm cho rằng, khi Công ty TH ban hành Quyết định kỷ luật số 31/QĐKL ngày 26/3/1999 sa thải ông Lê Văn T mà không giải quyết chế độ bảo hiểm cho ông, thì ông đã biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm từ thời điểm đó nhưng ông không khởi kiện, đến năm 2017 ông mới khởi kiện yêu cầu Công ty TH giải quyết chế độ bảo hiểm là đã hết thời hiệu 01 năm theo quy định tại khoản 2 Điều 202 Bộ luật lao động. Nhận định như vậy là không có căn cứ, dẫn đến ban hành Quyết định sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án và Quyết định phúc thẩm bác kháng cáo của ông Lê Văn T với lý do hết thời hiệu khởi kiện là không đúng quy định.

Do sai lầm nghiêm trọng trong việc ban hành các Quyết định sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên, tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã đề nghị và Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã chấp nhận Kháng nghị, hủy Quyết định sơ thẩm số 01/2018/QĐST-LĐ ngày 17/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện HT và Quyết định phúc thẩm số 01/2019/QĐ-PT ngày 07/05/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh TH; giao Hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện HT xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Để tăng cường kỹ năng nhận diện, phát hiện vi phạm trong việc áp dụng thời hiệu khởi kiện, nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án lao động về tranh chấp giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thông báo dạng vi phạm đã phát hiện được để các đơn vị trong Ngành cùng tham khảo và rút kinh nghiệm./.