Thông báo rút kinh nghiệm số 251/TB-VKSTC ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 251/TB-VKSTC NGÀY 30/11/2023 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ THUỘC TRÁCH NHIỆM CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
Căn cứ các quy định của Luật TNBTCNN và các văn bản hướng dẫn liên quan, Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhận thấy:
Việc Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng quy định tại Điều 27 của Luật TNBTCNN năm 2017 để xác định khoảng thời gian tính thiệt hại về tinh thần đối với ông Nguyễn Văn Dũng từ ngày ông Dũng bị tạm giam cho đến ngày ông nhận được Quyết định đình chỉ điều tra (từ ngày 26/7/1979 đến ngày 04/4/2009) nhưng không áp dụng Điều 11 Nghị định 68/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để tính khoảng thời gian làm căn cứ xác định thiệt hại về tinh thần là vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật. Cụ thể,
Theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Luật TNBTCNN năm 2017 thì
“b) Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại bị bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù được xác định là 05 ngày lương cơ sở cho 01 ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù;
c) Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại không bị bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc chấp hành hình phạt không phải là hình phạt tù được xác định là 02 ngày lương cơ sở cho 01 ngày không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản này"
Điều 11 Nghị định 68/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 quy định:
1. Người bị thiệt hại bị bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù quy định tại điểm b Khoản 3 Điều 27 của Luật thì khoảng thời gian được tính kể từ ngày người bị thiệt hại bị bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù đến ngày chấp hành xong biện pháp ngăn chặn hoặc được trả tự do hoặc đến ngày chấp hành xong hình phạt tù.
2. Người bị thiệt hại không bị bắt, tạm giữ, tạm giam hoặc chấp hành hình phạt không phải hình phạt tù quy định tại điểm c Khoản 3 Điều 27 của Luật thì khoảng thời gian được tính kể từ ngày người bị thiệt hại bị khởi tố hoặc chấp hành hình phạt đến ngày có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường.
Như vậy, thời điểm cuối cùng để tính khoảng thời gian được bồi thường tổn thất về tinh thần của ông Dũng theo Điều 27 là đến ngày có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường (Quyết định đình chỉ điều tra số 13/KSĐT ngày 11/5/1983) đồng thời là ngày ông Dũng được trả tự do. Do vậy, việc xác định thiệt hại về tinh thần của ông Nguyễn Văn Dũng (điểm b khoản 3 Điều 27 Luật TNBTCNN năm 2017) sẽ được tính từ khi bị tạm giam là ngày 26/7/1979, cho đến ngày được trả tự do và có Quyết định đình chỉ ngày 11/5/1983 tương ứng với khoản 1 Điều 11 Nghị định 68/2018/NĐ-CP để thực hiện.
Việc Tòa án cấp phúc thẩm trong quá trình xét xử đã nhận định “việc các cơ quan tố tụng tỉnh Tây Ninh trả tự do cho ông Nguyễn Văn Dũng vào ngày 11/5/1983 nhưng không tống đạt cho ông Dũng các Quyết định đình chỉ điều tra Quyết định trả tự do mà cho đến tận ngày 04/4/2019 mới tống đạt bản sao Quyết định đình chỉ điều tra số 13/KSĐT/TA ngày 11/5/1983" để tính thiệt hại về tinh thần cho ông Dũng đến ngày nhận Quyết định (04/4/2019) là áp dụng không đúng quy định của pháp luật về các trường hợp được bồi thường thiệt hại về tinh thần và khoảng thời gian tính bồi hường về tinh thần của người bị thiệt hại. Số tiền thiệt hại phải chi thêm từ ngân sách là 1.776.072.848 đồng.
Đối với nội dung Tòa án tuyên phần lãi xuất thi hành án, căn cứ Điều 76 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định “Cơ quan giải quyết bồi thường không thu các khoản án phí, lệ phí và các loại phí khác đối với nội dung yêu cầu bồi thường thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định của Luật này”.
- Tại khoản 1 Điều 4 Luật TNBTCNN năm 2017 quy định nguyên tắc bồi thường của Nhà nước “việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này”. Theo đó, việc giải quyết bồi thường tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ hoặc tại Tòa án phải áp dụng các quy định của Luật TNBTCNN năm 2017 mà không áp dụng pháp luật khác để giải quyết. Việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết bồi thường nhà nước được thực hiện theo trình tự, thủ tục, thời hạn cấp kinh phí và chi trả tiền bồi thường được quy định tại Điều 62 của Luật TNBTCNN năm 2017 mà không phải thuộc đối tượng tổ chức thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự. Do vậy, không có cơ sở để áp dụng các quy định về việc tuyên lãi và lãi xuất chậm trả phát sinh trong quá trình thi hành bản án. Thực tế trong thời gian qua, hầu hết các bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết bồi thường nhà nước đều không tuyên tiền lãi chậm chi trả đối với khoản tiền bồi thường và án phí.
Để nâng cao chất lượng công tác quản lý việc giải quyết yêu cầu bồi thường nhà nước của ngành kiểm sát, đảm bảo giải quyết các vụ việc về bồi thường thiệt hại nhanh chóng, đúng pháp luật và đạt hiệu quả cao. Đề nghị các đơn vị giải quyết bồi thường chủ động phối hợp, trao đổi với đơn vị tham gia phiên toà giải quyết vụ việc yêu cầu bồi thường tại Toà án để nắm bắt tiến trình giải quyết các vụ việc và thống nhất các ý kiến để giải quyết các vụ việc theo đúng quy định của pháp luật. Trong trường hợp Quyết định giải quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật, phải hoàn thiện sớm các thủ tục để cấp kinh phí theo quy định.
Trong thời gian qua, đã có bản án người bị thiệt hại đề nghị giám đốc thẩm nhưng đơn vị giải quyết bồi thường không nắm được nên đã làm thủ tục đề nghị cấp kinh phí dẫn đến việc người bị thiệt hại không đồng ý nhận tiền bồi thường. Do vậy, yêu cầu các địa phương phải báo cáo ngay Vụ 7 Viện kiểm sát nhân dân tối cao các trường hợp giải quyết tại Tòa án có phát sinh kháng cáo, kháng nghị, hoặc vướng mắc trong quá trình tham gia giải quyết vụ việc thi hành Bản án, Quyết định của Tòa án, để được hướng dẫn, giải quyết kịp thời.
Trên đây là một số nội dung cần rút kinh nghiệm ngay đối với những vụ việc giải quyết yêu cầu bồi thường có khởi kiện dân sự, nhằm nâng cao chất lượng công tác giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân. Vụ 7 Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Viện kiểm sát nhân dân các cấp nghiên cứu, tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác này./.