Nguồn án lệ về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất; hủy Quyết định cấp giấy chứng nhận; hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng (Quyết định giám đốc thẩm số 13/2024/DS-GĐT ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân tối cao)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC YÊU CẦU CÔNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT; HỦY QUYẾT ĐỊNH CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN; HỦY HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT; HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 13/2024/DS-GĐT NGÀY 23/4/2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO)
Quyết định giám đốc thẩm số 13/2024/DS-GĐT ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân tối cao hủy Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án “Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất; hủy Quyết định cấp giấy chứng nhận; hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là cụ Đỗ Thị T với bị đơn là bà Nguyễn Thị V và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.
Nội dung hủy án:
“[6] Đối với dòng chữ “Hiện nay là Lê Thị O” được ghi tại mục cước chú trang 44 và trang 47 của Sổ mục kê năm 1964, Ủy ban nhân dân xã Kim Q xác nhận từ năm 2007 đã thấy dòng chữ này nhưng không xác định cụ thể được năm viết và người viết. Ủy ban nhân dân xã Kim Q và các cán bộ địa chính xã từ năm 1994 đến nay đều không biết ai là người ghi thêm, ghi thêm vào thời gian nào, hoàn cảnh ghi thêm như thế nào. Bên cạnh đó, các bên cũng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh dòng chữ ghi thêm “Hiện nay là Lê Thị O” là sự chuyển dịch quyền sử dụng đất hợp pháp từ cụ T3 sang cụ O, nên việc ghi thêm này là không có căn cứ.
[7] Đối với “Biên bản họp gia đình về việc chia thừa kế” đề ngày 16/05/2006, trong đó có nội dung chia thừa kế giữa các chị em của bà V, có chữ ký của cụ T3 tại trang 03. Theo Kết luận giám định số 63/C09-P5 ngày 17/5/2021 của V1 Bộ C5 xác định chữ ký tại trang 03 Biên bản họp gia đình nêu trên là chữ ký của cụ T3. Tuy nhiên, “Biên bản họp gia đình về việc chia thừa kế” đề ngày 16/05/2006 gồm 03 trang rời nhau, không có chữ ký của cụ T3 và những người có tên trong Biên bản họp ở trang 01, trang 02. Trong khi đó, phần liệt kê thửa đất số 129, thửa đất số 145 trong danh sách tài sản được chia thừa kế nằm ở trang 02 (hiện đang tranh chấp) lại không có chữ ký xác nhận của cụ T3 đối với nội dung này, nên không đủ cơ sở để xác định cụ T3 đã đồng ý định đoạt 02 thửa đất trên cho bà V. Mặt khác, tại phần xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Kim Q ngày 17/05/2006 (sau ngày họp 01 ngày) có nội dung “Ủy ban nhân dân xã Kim Q xác nhận chữ ký các thành viên có mặt dự họp chia tài sản trên là đúng”. Tuy nhiên, theo ông Đỗ Quốc B (nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Kim Q) cung cấp thì: Ông B và ông Nguyễn Tứ K3 (cán bộ Tư pháp xã) có đến chứng kiến bà V, cụ T3 trao đổi về nhiều diện tích đất (trong đó có 02 ao đang tranh chấp), nhưng ông không quan tâm và cũng không để ý nội dung trao đổi. Do chưa đủ thành phần và chưa hoàn thiện Biên bản nên ông B về. Ông không chứng kiến việc các thành viên thảo luận, không chứng kiến các thành viên ký Biên bản; ngày 17/05/2006, ông B nhận Biên bản do bà V soạn sẵn, không đọc lại nội dung và đã ký xác nhận. Như vậy, việc Ủy ban nhân dân xã Kim Q chứng thực vào Biên bản nêu trên là không có căn cứ, vi phạm Điều 11 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực. Bên cạnh đó, 02 thửa đất nêu trên là tài sản chung của vợ chồng cụ T3, trường hợp nếu bà V có căn cứ chứng minh cụ T3 đã định đoạt đối với 02 thửa đất này, trong khi không có sự đồng ý của cụ T thì việc định đoạt này cũng là vô hiệu. Do đó, việc Ủy ban nhân dân huyện Thạch T cấp GCNQSDĐ cho bà V đối với thửa đất số 145 vào năm 2008 và thửa đất số 129 vào năm 2017 là không đúng.
[9] Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ T; không chấp nhận yêu cầu độc lập của vợ chồng ông M, bà N1; dành quyền khởi kiện cho vợ chồng ông M, bà N1 đối với bà V trong một vụ án khác là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã đảm bảo quyền lợi của vợ chồng ông M, bà N1. Tòa án cấp phúc thẩm chỉ căn cứ vào Lý lịch Đảng do cụ M1 kê khai để nhận định diện tích đất tranh chấp được các cố chia cho cụ M1 và căn cứ vào mục cước chú ghi “Hiện nay là Lê Thị O” để cho rằng cụ O là người trực tiếp sử dụng đất từ trước đến nay là không có căn cứ. Bên cạnh đó, Tòa án cấp phúc thẩm không nhận định, đánh giá về sự kiện tịch thu ruộng đất, trong khi các đương sự đều thừa nhận và trong Lý lịch Đảng của cụ M1 kê khai cũng thể hiện “Từ năm 1947 không liên lạc với gia đình, chỉ nghe tin đã bị tịch thu hết ruộng đất” là vi phạm Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về đánh giá chứng cứ; từ đó, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là trái với chính sách quản lý đất đai của Nhà nước qua các thời kỳ. Đồng thời, công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà V với vợ chồng ông M, bà N1; giữ nguyên hiệu lực của GCNQSDĐ cấp cho vợ chồng ông M, trong khi đất đang có tranh chấp là không đúng quy định của pháp luật.”