Công bố thông tin trước đợt chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế được quy định như thế nào?
Công bố thông tin trước đợt chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế được quy định như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Công ty chúng tôi đang chuẩn bị kế hoạch chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế để huy động vốn cho dự án mới. Vì đây là lần đầu triển khai việc phát hành trái phiếu ra nước ngoài nên lãnh đạo công ty rất thận trọng về các thủ tục pháp lý, đặc biệt là trách nhiệm minh bạch thông tin với cơ quan quản lý. Liên quan đến vấn đề này, pháp luật quy định như thế nào về công bố thông tin trước đợt chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế? Rất mong Luật sư giải đáp. Xin cảm ơn!
MỤC LỤC
1. Nguyên tắc công bố thông tin chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế được quy định như thế nào?
2. Công bố thông tin trước đợt chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế được quy định như thế nào?
Trả lời:
1. Nguyên tắc công bố thông tin chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế được quy định như thế nào?
Việc công bố thông tin chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế được thực hiện theo những nguyên tắc luật định. Nội dung này được ghi nhận tại Điều 34 Nghị định số 200/2026/NĐ-CP ngày 05/6/2026 của Chính phủ quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế (sau đây gọi tắt là "Nghị định số 200/2026/NĐ-CP") như sau:
"Điều 34. Nguyên tắc công bố thông tin
1. Doanh nghiệp thực hiện công bố thông tin theo quy định tại thị trường phát hành và quy định tại Nghị định này.
2. Doanh nghiệp phát hành phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin công bố và tính chính xác, đầy đủ, kịp thời của thông tin công bố."
Theo đó, việc công bố thông tin chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế phải tuân theo hai nguyên tắc:
- Doanh nghiệp thực hiện công bố thông tin theo quy định tại thị trường phát hành và theo Nghị định số 200/2026/NĐ-CP. Điều này cho thấy hoạt động công bố thông tin của doanh nghiệp phát hành trái phiếu không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam mà còn phải đáp ứng các yêu cầu của thị trường nơi trái phiếu được phát hành. Vì vậy, doanh nghiệp cần bảo đảm việc công bố thông tin phù hợp với cả hai nguồn quy định này trong quá trình phát hành trái phiếu;
- Doanh nghiệp phát hành phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin công bố và tính chính xác, đầy đủ, kịp thời của thông tin công bố. Có thể thấy, điều luật đã xác định rõ doanh nghiệp phát hành phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin đã công bố. Trách nhiệm này bao gồm các yêu cầu về chất lượng thông tin: chính xác, đầy đủ, kịp thời. Đồng thời, nguyên tắc này còn tạo cơ sở xác định trách nhiệm của doanh nghiệp đối với thông tin do mình công bố, qua đó yêu cầu doanh nghiệp thận trọng trong quá trình chuẩn bị và công bố thông tin chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế.
Như vậy, nguyên tắc công bố thông tin chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế vừa bảo đảm thông tin được công bố phù hợp với yêu cầu của thị trường phát hành, vừa đặt ra trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp phát hành đối với thông tin được công bố. Điều này sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của thông tin trong quá trình chào bán, đồng thời tạo cơ sở để nhà đầu tư và các chủ thế liên quan được tiếp cận thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời.
2. Công bố thông tin trước đợt chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế được quy định như thế nào?
Doanh nghiệp thực hiện công bố thông tin trước đợt chào bán ra thị trường quốc tế theo Điều 35 Nghị định số 200/2026/NĐ-CP như sau:
"Điều 35. Công bố thông tin trước đợt chào bán
1. Tối thiểu 01 ngày làm việc trước ngày dự kiến tổ chức đợt chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế (ngày bắt đầu đợt chào bán trái phiếu), doanh nghiệp phát hành gửi Bản công bố thông tin trước đợt chào bán trái phiếu đến Sở giao dịch chứng khoán. Nội dung Bản công bố thông tin trước đợt chào bán trái phiếu thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
2. Sở giao dịch chứng khoán tiếp nhận nội dung công bố thông tin trước đợt chào bán theo quy định tại khoản 1 Điều này để tổng hợp và báo cáo về tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế theo quy định tại Điều 39 Nghị định này. Việc Sở giao dịch chứng khoán tiếp nhận nội dung công bố thông tin của doanh nghiệp phát hành không hàm ý Sở giao dịch chứng khoán xác nhận và đảm bảo cho đợt chào bán trái phiếu của doanh nghiệp."
Dẫn chiếu đến Điều 39 Nghị định số 200/2026/NĐ-CP quy định như sau:
1. Tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý và hằng năm cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
2. Đại diện người sở hữu trái phiếu thực hiện chế độ báo cáo cho Sở giao dịch chứng khoán định kỳ hàng quý, hằng năm và báo cáo trong trường hợp phát hiện doanh nghiệp phát hành có hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện các cam kết với nhà đầu tư.
3. Tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý, hằng năm cho Sở giao dịch chứng khoán.
4. Chế độ báo cáo của Sở giao dịch chứng khoán:
a) Sở giao dịch chứng khoán thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý, hằng năm cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về tình hình chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp gồm chào bán tại thị trường trong nước và chào bán ra thị trường quốc tế;
b) Ngoài chế độ báo cáo định kỳ theo quy định tại điểm a khoản này, Sở giao dịch chứng khoán báo cáo đột xuất cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo yêu cầu của cơ quan quản lý.
5. Chế độ báo cáo của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam:
a) Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý, hằng năm cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về tình hình đăng ký, lưu ký, chuyển quyền sở hữu, cơ cấu nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp chào bán riêng lẻ tại thị trường trong nước;
b) Ngoài chế độ báo cáo định kỳ theo quy định tại điểm a khoản này, Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam báo cáo đột xuất cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo yêu cầu của cơ quan quản lý.
6. Chế độ báo cáo của tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu, đại diện người sở hữu trái phiếu, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, Sở giao dịch chứng khoán và Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính."
Theo đó, chậm nhất 01 ngày làm việc trước ngày dự kiến tổ chức đợt chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế hoặc ngày bắt đầu đợt chào bán trái phiếu, doanh nghiệp phát hành trái phiếu gửi Bản công bố thông tin trước đợt chào bán trái phiếu đến Sở giao dịch chứng khoán. Nội dung Bản công bố thông tin trước đợt chào bán trái phiếu thực hiện theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Sở giao dịch chứng khoán có trách nhiệm tiếp nhận nội dung công bố thông tin trước đợt chào bán trái phiếu do doanh nghiệp gửi để tổng hợp và báo cáo về tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế theo quy định về báo cáo của tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, đại diện người sở hữu trái phiếu, Sở giao dịch chứng khoán và Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam. Tuy nhiên, việc Sở giao dịch chứng khoán tiếp nhận nội dung công bố thông tin của doanh nghiệp phát hành không đồng nghĩa Sở giao dịch chứng khoán xác nhận và đảm bảo cho đợt phát hành trái phiếu của doanh nghiệp.
Nhìn chung, pháp luật đã xác định tương đối rõ trách nhiệm của doanh nghiệp phát hành và vai trò của Sở giao dịch chứng khoán trong việc tiếp nhận và tổng hợp về công bố thông tin trước đợt chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế. Việc yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thông tin trước thời điểm bắt đầu đợt chào bán nhằm phục vụ công tác tổng hợp và báo cáo tình hình phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế. Đồng thời, pháp luật phân định rõ rằng Sở giao dịch chứng khoán chỉ đóng vai trò đầu mối tiếp nhận, tổng hợp thông tin để quản lý, không đồng nghĩa việc tiếp nhận thông tin là xác nhận hoặc bảo đảm cho đợt phát hành trái phiếu. Qua đó, doanh nghiệp buộc phải chịu trách nhiệm toàn bộ về thông tin công bố trước nhà đầu tư và tại thị trường phát hành.
Trân trọng./.