NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP CHIA TÀI SẢN CHUNG VÀ THỪA KẾ TÀI SẢN (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 49/2023/DS-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 49/2023/DS-GĐT ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương và hủy Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện K1, tỉnh Bình Dương về việc tranh chấp chia tài sản chung và thừa kế tài sản.

Nội dung hủy án:

"[1] Căn cứ vào Giấy khai sinh số 194 quyển 01 ngày 18/5/2009 của Ủy ban nhân dân xã K7, huyện K1, tỉnh Bình Dương thì ông Trần Tài V1 và bà Vi Thị T1 có con chung là Trần Tài A1, sinh ngày 23/7/1998. Căn cứ Trích lục khai sinh số 393/TLKS-BS ngày 15/11/2019 của UBND xã K7, huyện K1, tỉnh Bình Dương thì ông Lê Tuấn N2 và bà Nguyễn Thị M1 có con chung là Lê Tấn T4, sinh ngày 20/8/1994.

Theo Giấy xác nhận số 449/GXN-CAH ngày 18/12/2019 của công A1 huyện K1, tỉnh Bình Dương thì bà Nguyễn Thị M1 đã tách hộ khẩu với Ông V1 vào ngày 30/6/2000.

Năm 2002, ông Trần Tài V1 chết do bị tai nạn giao thông với Nguyễn Văn N3. Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã xét xử vụ án Nguyễn Văn N3 phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 266/HS-ST ngày 27/10/2003. Bà Vi Thị T1 là người lo mai táng và đại diện cho ông Trần Tài V1, Trần Tài A1 tham gia giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị M1 hoàn toàn không tham gia.

Như vậy, có căn cứ xác định từ năm 1994 thì Bà M1 và Ông V1 không còn chung sống, hai người đều đã có con riêng, có cuộc sống vợ chồng riêng, có nơi ở riêng. Những điều này thể hiện Bà M1 và Ông V1 đã tự nguyện chấm dứt quan hệ hôn nhân thực tế từ năm 1994.

[2] Phần đất tranh chấp có diện tích theo đo đạc thực tế 10.127,9 m² thuộc thửa đất số 06, tờ bản đồ số 27. tọa lạc tại ấp K4, xã K2, huyện K1, tinh Bình Dương theo Giấy CNOSDĐ số vào sổ 00335QSDÐ/QÐ-UB do UBND huyện K1 cấp ngày 02/4/2001 cho hộ ông Trần Tài V1 có nguồn gốc của bà Nguyễn Thị N1 (ủy quyền cho bà Nguyễn Thị S1 và ông Đặng Cộng S2) chuyển nhượng cho Ông V1 vào năm 1998.

Bà Nguyễn Thị N1 có các lời khai vào các ngày 28/01/2019 và ngày 09/02/2021, khẳng định chỉ chuyển nhượng diện tích đất mà các bên tranh chấp cho ông Trần Tài V1. Tại Biên bản xác minh ngày 23/4/2019, bà Nguyễn Thị S1 và ông Đặng Công S2 xác định bà N1 bán cho ông Trần Tài V1 phần đất của bà N1 vào năm 1998, việc đặt cọc và thỏa thuận mua bán chỉ do một mình ông Trần Tài V1 thực hiện, Ông V1 là người trực tiếp giao tiền, còn ký giấy mua bán là do ông Trần Tài V1 và bà Vi Thị T1 ký.

Tại Đơn đăng ký quyền sử dụng đất do ông Trần Tài V1 kê khai ngày 17/7/1999 thể hiện chủ hộ gia đình sử dụng đất là ông Trần Tài V1, vợ là bà Vi Thi Thanh, theo nội dung Ông V1 kê khai, thể hiện Ông V1 đã chấm dứt quan hệ hôn nhân với Bà M1. Mặt khác, vào thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cho hộ.”