Đề xuất Án lệ về giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo hiểm khi bên tham gia bảo hiểm có một phần lỗi
ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM KHI BÊN THAM GIA BẢO HIỂM CÓ MỘT PHẦN LỖI
Tình huống pháp lý:
Trên thực tế hiện nay, khi kinh tế xã hội phát triển cũng kéo theo những hệ lụy về sức khỏe, bệnh tật ngày càng phức tạp. Vì vậy, nhu cầu tham gia bảo hiểm nhân thọ ngày càng nhiều, từ đó mà các tranh chấp liên quan đến hợp đồng bảo hiểm được đưa đến Tòa án giải quyết ngày càng gia tăng. Các công ty bảo hiểm luôn tham gia hợp đồng bảo hiểm với cơ sở pháp lý rất vững chắc, nên ít khi họ gặp phải rủi ro. Tuy nhiên, trong vụ án dưới đây, do bên tham gia bảo hiểm không cung cấp thông tin sức khỏe, bệnh lý đầy đủ, mặc dù họ biết mình có bệnh trước khi tham gia bảo hiểm, đây là một trong những nguyên nhân để loại trừ trách nhiệm chi trả bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm. Nhưng do doanh nghiệp bảo hiểm đã tiến hành khám sức khỏe sàng lọc trước khi ký kết hợp đồng nhưng không phát hiện ra bệnh lý của người tham gia. Nên trong trường hợp này, bên doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải có trách nhiệm chi trả bảo hiểm cho người dân, nếu quyết định họ phải chịu trách nhiệm chi trả toàn bộ số tiền bảo hiểm là không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Việc bên tham gia bảo hiểm không cung cấp thông tin đầy đủ cũng đã vi phạm nghĩa vụ khi tham gia bảo hiểm nên cần phải xác định mức độ lỗi để loại trừ số tiền bảo hiểm mà người thân của họ được thụ hưởng. Như vậy sẽ vừa đảm bảo quyền lợi của người dân lẫn doanh nghiệp bảo hiểm. Vì vậy, trong bản án dưới đây, Uỷ ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định lỗi của bên tham gia bảo hiểm để làm căn cứ giải quyết là hoàn toàn hợp tình, hợp lý, đưa ra đường lối giải quyết đúng đắn trong tính huống thực tế này.
Nội dung đề xuất án lệ:
“[8] Mặc dù các Điều khoản của hợp đồng An Phát Trọn Đời (điểm b Điều 6.2.5) và hợp đồng An Phát Hưng Gia (điểm b Điều 6.3.5) thỏa thuận Tổng Công ty B không phải trả tiền bảo hiểm trong trường hợp “...khi hợp đồng có hiệu lực hoặc được khôi phục chưa đủ 12 tháng”, và theo Tổng Công ty B thì hiệu lực hợp đồng giữa các bên chưa đủ 12 tháng, nhưng như nhận định trên, anh B đóng phí năm được 01 lần nên xem như hợp đồng đã thực hiện và có hiệu lực đủ 01 năm (12 tháng). Mặt khác, thỏa thuận nêu trên trong các hợp đồng bảo hiểm giữa các bên trái với quy định tại Điều 39 của Luật Kinh doanh bảo hiểm về các trường hợp không trả tiền bảo hiểm. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật Kinh doanh bảo hiểm thì “tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải tuân theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan Thỏa thuận tại các Điều khoản nêu trên trong các hợp đồng không phù hợp với Luật Kinh doanh bảo hiểm và có nội dung miễn trách nhiệm cho Tổng Công ty B (là bên đưa ra hợp đồng theo mẫu), loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên mua bảo hiểm nên không có hiệu lực (theo quy định tại khoản 3 Điều 407 của Bộ luật Dân sự năm 2005, nay là khoản 3 Điều 405 của Bộ luật Dân sự năm 2015).
[9] Tòa án cấp sơ thẩm xét xử buộc trách nhiệm trả tiền bảo hiểm của Tổng Công ty B cho phía nguyên đơn là đúng, nhưng không xét lỗi của anh B trong việc cung cấp thông tin về sức khỏe của người yêu cầu bảo hiểm để xác định mức chi trả bảo hiểm tương ứng là chưa phù hợp. Tòa án cấp phúc thẩm nhận định anh B vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin nên xét xử không chấp nhận yêu câu khởi kiện của nguyên đơn là không đúng với nhận định nêu trên. Khi giải quyết lại vụ án, nếu không thu thập thêm chứng cứ nào khác thì phải đánh giá bên tham gia bảo hiểm có một phần lỗi để từ đó, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tương ứng với mức độ lỗi được xác định của anh B thì mới phù hợp và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.”