ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC YÊU CẦU PHẢN TỐ BUỘC NGÂN HÀNG BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO KHÔNG TIẾP TỤC GIẢI NGÂN KHOẢN VAY VÀ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH TRONG TRƯỜNG HỢP BÊN BẢO LÃNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG VI PHẠM ĐIỀU LỆ CÔNG TY

Tình huống pháp lý:

Ngân hàng cho rằng bên vay không đáp ứng được đầy đủ các điều kiện, thủ tục vay, vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên không tiếp tục giải ngân khoản vay cho bên vay theo thoả thuận trong hợp đồng và yêu cầu bên vay phải trả nợ gốc và lãi. Bên vay cho rằng do Ngân hàng không tiếp tục giải ngân khoản vay dẫn đến thiệt hại cho bên vay nên có yêu cầu phản tố buộc ngân hàng phải bồi thường thiệt hại.

Nội dung đề xuất án lệ:

“[10] Từ ngày 27/8/2010 dến 14/01/2014, G2 đã giải ngân cho Công ty Đ2 thông qua 89 khế ước nhận nợ với tổng số tiền 358.077.940.023 dồng. Theo thỏa thuận hợp đồng tín dụng và phụ lục đã ký kết, G2 cho Công ty Đ2 vay 70% tổng vốn đầu tư của dự án nhưng tối đa không quá 420 tỷ đồng, thực tế G2 đã cho Công ty Đ2 vay 358.077^940.0236? Theo Chứng thư thẩm định giá so vc 16/07/23.01/TS-HN ngày 13/7/2016 của Công ty cổ phần T6 thì giá trị đầu tư tài sản vào dự án theo hồ sơ, chứng từ là 520.730.400.0006. Như vậy, số tiền G2 đã giải ngân cho Công ty Đ2 đến ngày giải ngân cuối cùng 14/01/2014 tương đương vốn đầu tư của công ty vào nhà máy 358.077.992.0066/520.730.400.0006 tương dương 85,25% hạn mức tối đa được cho vay, số tiền G2 chưa giải ngân theo hợp đồng còn khoảng 61 tỷ đồng. Theo thỏa thuận G2 sẽ thực hiện việc giải ngân theo tiến độ của dự án mà Công ty Đ2 thực hiện. Đồng thời, việc rút vốn vay theo thỏa thuận vay chỉ được thực hiện khi Công ty Đ2 đáp ứng được đầy đủ các thủ tục, điều kiện rút vốn vay quy định tại Hợp đồng tín dụng số 0081 đã ký kết “chỉ được rút vốn vay khi đã hoàn thành mọi thủ tục về bảo đảm tiền vay, bảo hiểm tài sản và các hồ sơ phương án vay vốn liên quan theo yêu cầu của G4”. Do đó, G4 không có nghĩa vụ buộc phải cho Công ty TNHH Đ2 vay đủ 420 tỷ đồng khi không đáp ứng các điều kiện, thủ tục. G2 không tiếp tục giải ngân cho Công ty TNHH Đ2 là do bên vay không đáp ứng đủ các thủ tục, điều kiện vay, vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng và các phụ lục hợp đồng đã ký với G2. Do vậy, G2 dừng giải ngân và yêu cầu Công ty TNHH Đ2 thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ. Tại Cấp phúc thẩm, phía Công ty Đ2 có xuất trình Công văn số 88/2012/CV/GPBSGD ngày 16/3/2012 của G2 gưi Ngân hàng Đ4 và Công ty Đ2 có đề cập đến nguyên nhân G2 dừng giải ngân đối với kho ân vay của Công ty Đ2 trong khoảng thời gian từ sau ngày 18/10/2011 đến trước ngày 02/3/2012 là do khách quan. Nội dung của văn bản này nhằm giải thích cho Ngân hàng Đ4 biết nguyên nhân chính dẫn đến kho ân nợ của Công ty Đ2 chuyển từ nhóm 2 lên nhóm 3 là do bị dừng giải ngân một thời gian như đã nêu trẽn nên công ty buộc phải ưu tiên sử dụng dòng tiền của mình thay vì trả G2 theo hợp đồng đã ký. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án, phía Công ty Đ2 và Công ty Đ2 không xuất trình được các tài liệu, chứng cứ chứng minh thiệt hại của công ty D bị G2 dừng giải ngân trong thời gian này. Các tài liệu xuất trình bồ sung tại cấp phúc thẩm của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị đơn và người có quyền lợi liên quan đều không thê hiện thiệt hại của 2 công ty liên quan đến hợp đồng tín dụng giữa G2 và Công ty Đ2.

[17] Ngày 26/7/2010, ông Đặng Thế Đ1 được Công ty CP Đ5 và khu Công nghiệp S cử tham gia Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Đ2. Theo Điều 6 của Điều lệ của Công ty cổ phần Đ2 ngày 25/8/2010 thì cổ đông của Công ty gồm có ông B, ông C và ông Đ1. Theo khoản 1 Điều 41 Điều lệ của công ty cổ phần Đ2 ngày 25/8/2010, Hội đồng quản trị có không ít hơn là 03 (ba) thành viên. Ngày 26/8/2010, Công ty cổ phần Đ2 có văn bản cam kết sẽ thực hiện toàn bộ nghĩa vụ với G2 thay cho Công ty Đ2 trong trường hợp Công ty Đ2 không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với G2 và cam kết này là cam kết không hủy ngang.

Nội dung của cam kết ngày 26/8/2010 của Công ty Đ2 thể hiện “các thành viên Hội đồng quản trị cùng nhất trí”. Tuy nhiên, trên Bản cam kết này chỉ có chữ ký của ông Nguyễn Vãn BI và chữ ký mang tên ông Nguyễn Mạnh C1 (thiếu chữ ký của ông Đl). Theo quy định của Điều 120 luật doanh nghiệp năm 2005 và Điều 28 Điều lệ của Công ty cổ phần Đ2 thông qua ngày 15/8/2008; Điều 27 Điều lệ của Công ty cổ phần Đ2 thông qua ngày 25/8/2010 thì “Hội đồng quản trị chấp thuận các hợp đồng và giao dịch có giá trị nhỏ hơn 50% tổng giá trị tài sản doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chính gần nhất hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty.

Trong trường hợp này, người đại diện theo pháp luật phải gửi đến các thành viên Hội đồng quản trị; niêm yết tại trụ sở chính, chi nhánh của công ty DI hợp đồng hoặc thông báo nội dung chủ yếu của giao dịch. Hội đồng quản trị quyết định việc chấp thuận hợp đồng hoặc giao dịch trong thời hạn mười lăm ngày, kê từ ngày niêm yết; thành viên có lợi ích liên quan không có quyền biểu quyết. Đại hội đồng cổ đông chấp thuận các hợp đồng và giao dịch khác trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Hội đồng quản trị trình dự thảo hợp đồng hoặc giải trình về nội dung chủ yếu của giao dịch tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông hoặc lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản.

Trong trường hợp này, cổ đông có liên quan không có quyền biểu quyết; hợp đồng hoặc giao dịch được chấp thuận khi có số cồ đông đại diện 5% tổng số phiếu biểu quyết còn lại đồng ý”. Tuy cam kết này chưa được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị của Công ty cổ phần Đ2 thông qua, chấp thuận nhưng G2 vẫn ký với Công ty Đ2 hợp đồng tín dụng số 0081/HĐTD/GPB-SGD/10 ngày 26/8/2010 và phụ lục hợp đồng tín dụng số 02.008 l/PLHDTD/GPB-SGDHN/10 ngày 26/72011 có nội dung G2 cho Công ty Đ2 vay 70% tồng vốn đầu tư của dự án nhưng mức cho vay tối đa của G2 không quá 420 tỷ đồng; cam kết của Công ty Đ2 là điều kiện khác trong điều kiện vay của hợp đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện của Ngân hàng cho rằng là cam kết này không phải điều kiện cần thiết để ký hợp đồng tín dụng số 0081/HĐTD/GPB- SGD/10 ngày 26/8/2010 và phụ lục hợp đồng tín dụng số 02.0081/PLHDTD/GPB- SGDHN/10 ngày 26/72011, đây là bảo lành tự nguyện của Công ty cổ phần Đ2. Theo Điều lệ của Công ty cổ phần Đ2 thông qua ngày 25/8/2010, thì vốn Điều lệ của công ty là 500.000.000.000 (năm trăm tỷ) đồng, ông Nguyễn Văn BI sở hữu 34,84 % và ông Nguyễn Mạnh C1 sở hữu 13,6% vốn điều lệ; theo báo cáo tài chính đến ngày 31/12/2009 tổng tài sản của công ty là 461.749.075.853 đồng. Theo báo cáo tài chính đến ngày 31/12/2009 tài sản cố định của công ty cổ phần Đ2 Đ là 219.673.930.877 đồng. Tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm G2 cho rằng Công ty cổ phần Đ2 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ thay cho Công ty Đ2 trả 29.869.839.013d (bao gồm Nợ gốc: 360.816.747.127d; Nợ lãi trong hạn: 180.275.287.154đ; Nợ lãi quá hạn: 88.777.804.732d) theo cam kết số 2608/SĐVĐ ngày 26/08/2010 tức là nhiều hơn cả tổng tài sản của công ty tại thời điểm ký cam kết (giao dịch). Xét thấy, tại thời điểm ông B ký cam kết ngày 26/8/2010, G2 không yêu cầu hoặc buộc Công ty cổ phần Đ2 thực hiện, bổ sung trình tự, thủ tục, thẩm quyền ký kết theo đúng các quy định của pháp luật và Điều lệ của công ty để đảm bảo cam kết này có hiệu lực, tức là cam két này phải được Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông của Công ty chấp thuận. Bởi lẽ, theo quy đinh tại điểm g khoản 2 Điều 108 Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì cam kết này thuộc thẩm quyền Hội đồng quản trị hoặc do đại hội cổ đông quyết định.

Thực tế trước và sau khi ký phụ lục hợp đồng tín dụng số 02.008 l/PLHDTD/GPB-SGDHN/10 ngày 26/72011, G2 không yêu cầu Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông của Công ty Đ2 phải thực hiện việc chấp thuận thông qua và bổ sung đầy đủ chữ ký của các thành viên Hội đồng quản trị vào cam kết đối với nội dung của phụ lục “Thay: Mức cho vay 70% Tổng mức đầu tư dự án nhưng tối đa không quá: 212.156.409.000d. số tiền cho vay căn cứ vào giấy chứng nhận đầu tư của tỉnh Hà Nam đối với dự án. Bằng: Mức cho vay 70% Tồng vốn đầu tư dự án, nhưng tối đa không quá: 420.000.000.000d và không vượt quá 15% vốn tự có của G2 tại mọi thời điểm (Mức cho vay bao gồm lãi nhập gốc)”. Mặt khác, báo cáo tài chính đến ngày 31/12/2009 tài sản cố định của Công ty cổ phần Đ2 Đ là 219.673.930.877 đồng nhưng giữa G2 cho Công ty Đ2 Đ không ký hợp đồng thế chấp, cầm cố tài sản tài sản cố định kèm theo bản cam kết nêu trên, để xác định quyền, nghĩa vụ của các bên, thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm với các tài sản của Công ty bắt buộc phải đăng ký. Các Hợp đồng thế chấp tài sản số 0082/HĐTCBL/GPB-SGD/11 ngày 06/07/2011 ký giữa G2 và Công ty cổ phần Đ2 có tài sản bảo đảm là 15 xe ô tô Yunli Sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát từ số 29R - 001.12 - 29R-0001.26; giá trị tài sản bảo đảm: 9.249.281.0006 và Hợp đồng thế chấp tài sản số 0083/HĐTCBL/GPB-SGD/l 1 ngày 08/07/2011 ký giữa G2 và Công ty cổ phần Đ2 có tài sản bảo đảm là: 02 Bộ bơm bê tông cố định dạng cần hiệu Zoomlion. model HG29D và 04 Bộ bơm bê tông cố định dạng cần hiệu Zoomlion. model HG33D; giá trị tài sản bảo đảm là: 11.750.517.9206 được hai bên ký kết độc lập mà không liên quan tới bản cam kết ngày 26/8/2010 của Công ty cổ phần Đ2 với G2. Do vậy, cóđủ căn cứ xácđịnh cam kết ngày 26/08/2010được ông B ký và có chữ ký mang tên ông c 1 với G2 chưa phát sinh hiệu lực do không tuân thủ trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quyđịnh của Điều lệ công ty; không đúng quy định của Điều lệ Công ty và của pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm, ông Nguyễn Mạnh C1 có đề nghị giám định chữ ký của ông trên bản cam kết này, vì cho rằng mình không ký và bản cam kết không có hiệu lực. Do cam kết này chưa được Hội đồng quản trị hoặc Đại hội cổ đông của công ty chấp thuận, nên chưa có hiệu lực ràng buộc nghĩa vụ Công ty cổ phần Đ2 với G2; vì vậy, Tòa án không cần thiết giám định chữ ký của ông Nguyễn Mạnh Cl. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty cổ phần Đ2 về việc không buộc Công ty cổ phần Đ2 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền thay cho Công ty TNHH Đ2 phải trả cho G2 theo Hợp đồng tín dụng số 0081/HĐTD/GPB-SGD/10 ngày 26/8/2010 và các phụ lục kèm theo của Hợp đồng.”