ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM CỦA ĐƠN VỊ TƯ VẤN GIÁM SÁT TRONG VIỆC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG

Tình huống pháp lý:

Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng xây dựng giữa Chủ đầu tư và Nhà thầu, liên quan đến trách nhiệm nghiệm thu công trình, giá trị pháp lý của hồ sơ nghiệm thu – xác nhận khối lượng do tư vấn giám sát và nhà thầu lập, nghĩa vụ thanh toán của Chủ đầu tư, cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên trong thời hạn bảo hành công trình xây dựng.

Nội dung đề xuất án lệ:

“Dù chuyển tài liệu 01 (Một) lần hoặc nhiều lần nhưng tới thời điểm 13/12/2016 thì Công Ty H đã đệ trình đầy đủ Hồ sơ cho Công ty F. Công ty F cho rằng chủ đầu tư Công ty F chưa ký biên bản nghiệm thu nên chưa có cơ sở thanh toán, theo thỏa thuận Hợp đồng 57 thì cần phải có chữ ký của Công ty F và chữ ký của T không mặc nhiên loại trừ trách nhiệm của Công Ty H. HĐXX nhận định: Điều 19 Nghị định 48/2010/NĐ-CP ngày 07/5/2010 Nghị định về Hợp đồng trong hoạt động xây dựng tại khoản 2 Điều 19 đã quy định hồ sơ thanh toán hợp đồng bao gồm các tài liệu chủ yếu là biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành trong giai đoạn thanh toán có xác nhận của đại diện bên giao thầu hoặc đại diện tư vấn (nếu có) và đại diện bên nhận thầu. Khoản 2 Điều 21 quy định về quyết toán hợp đồng xây dựng cũng quy định tài liệu bao gồm Biên bản nghiệm thu hoàn thành toàn bộ công việc thuộc phạm vi hợp đồng, bản xác nhận giá trị khối lượng công việc phát sinh (nếu có) ngoài phạm vi hợp đồng. Điều 81 Luật xây dựng số 16/2003/QH11 quy định về thanh toán, quyết toán trong hoạt động xây dựng, theo đó Nhà thầu có trách nhiệm lập hồ sơ thanh quyết toán, quyết toán khối lượng công việc đã thực hiện, chủ đầu tư công trình phải thanh toán cho nhà thầu theo khối lượng đã được nghiệm thu.

Hồ sơ do nguyên đơn, và nhà tư vấn T cung cấp cho Tòa án, đều thống nhất thể hiện cả khối lượng thi công theo Hợp đồng 57 và phần phát sinh cũng nằm trong phạm vi thi công hạng mục của Hợp đồng 57 đều đã được nghiệm thu có chữ ký xác nhận của T, cũng được coi là của Chủ đầu tư (Theo tinh thần Nghị định 48, chỉ cần 01 (một) trong hai bên hoặc chủ đầu tư hoặc nhà tư vấn xác nhận) thì Biên bản nghiệm thu đã hợp pháp. Việc Công ty F cho rằng, không có chữ ký của Công Ty F là không hợp pháp là chưa đúng với quy định của pháp luật. HĐXX cho rằng T đại diện cho Công ty F về việc xác nhận chất lượng, khối lượng, và tiến độ thi công công trình. Bằng Hợp đồng ký chỉ định nhà Tư vấn, Công ty F đã giao toàn quyền của mình cho T trong việc xác nhận các Hoạt động thi công của Công Ty H tại dự án.

Tại phiên tòa Công ty F xác định, đã nhận được các Biên bản nghiệm thu công trình từ phía Công Ty H gửi đến, và không có bất kì sự phản hồi nào về chữ ký xác nhận nghiệm thu công trình cả khối lượng và chất lượng của công trình theo Hợp đồng và phần làm thêm phát sinh rằng T xác nhận như vậy là không đúng. Như vậy Hồ sơ quyết toán của Công Ty H gửi tới Công ty F, Công Ty F không có phản hồi về chất lượng công trình, được coi là mặc nhiên thừa nhận, và phải có nghĩa vụ ký vào Hồ sơ cũng như có nghĩa vụ thanh toán cho Công Ty H theo đúng quy định của Điều 81 Luật xây dựng số 16/2003/QH11 và Theo Khoản 4 Điều 80 Luật xây dựng số 16/2003/QH11 quy định chủ đầu tư xây dựng công trình có trách nhiệm tổ chức nghiệm thu, tiếp nhận công trình xây dựng. Nghiệm thu là trách nhiệm của Công ty F, Công ty F đã ủy nhiệm cho Nhà tư vấn T là đảm bảo tính pháp lý.”.

“Trong các Biên bản nghiệm thu, T không có bất kì nội dung nào ghi nhận Công Ty H có sai sót về công trình xây dựng. Mục 7.5 Hợp đồng xây dựng có ghi rõ trách nhiệm của Nhà thầu đối với các sai sót, theo đó Công Ty H phải bằng kinh phí của mình, hoàn thành công việc tồn đọng và sửa chữa sai sót tồn đọng trong thời hạn được ghi trong biên bản nghiệm thu, bàn giao. Nếu không sửa chữa được sai sót trong thời gian được ấn định thì Chủ đầu tư có thể ấn định ngày sửa sai sót và thông báo cho nhà thầu về ngày này. Công ty F có trình bày và cung cấp tài liệu chứng minh phải sửa chữa sai sót thi công trong khoảng thời gian công trình được bàn giao chưa đi vào hoạt động, chưa hết hạn bảo hành công trình, mà không hề có bất kì văn bản nào yêu cầu Công Ty H thực hiện sửa chữa mà tự ý thuê bên thứ ba làm. Công ty F cũng thừa nhận, để đảm bảo sự sửa chữa phục vụ các sự kiện tổ chức lại khu nghỉ dưỡng nêu trên, nên đã không yêu cầu Công Ty H khắc phục mà thuê bên thứ ba. HĐXX nhận định, việc Công ty F thuê bên thứ ba làm là không đúng thỏa thuận Hợp đồng 57, cũng không phù hợp quy định tại Khoản 3, 4 Điều 43 Luật xây dựng số 16/2003 về Khiếu nại trong quá trình thực hiện Hợp đồng xây dựng là trong vòng 30 ngày kể từ ngày phát hiện những nội dung không phù hợp hợp đồng đã ký kết, bên phát hiện phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia những nội dung đó và khiếu nại nội dung này, cũng không phù hợp với quy định tại Khoản 3 Điều 44 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13.”