Đề xuất Án lệ về việc xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong tranh chấp hợp đồng tín dụng liên quan đến hợp đồng thế chấp tài sản
ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH NGƯỜI CÓ QUYỀN LỢI, NGHĨA VỤ LIÊN QUAN TRONG TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG LIÊN QUAN ĐẾN HỢP ĐỒNG THẾ CHẤP TÀI SẢN
Tình huống pháp lý:
Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án hiện nay, đối với các vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, khi xử lý tài sản thế chấp, Thẩm phán phải đưa những người đang thực tế cư trú trên tài sản thế chấp làm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, nhiều trường hợp, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là người thế chấp tài sản nhưng lại không ngay tình trong việc cho thuê tài sản.
Nội dung đề xuất án lệ:
“Tài liệu trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bên thể hiện căn nhà số B đường A tháng E, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã được thế chấp để bảo đảm các khoản vay của Công ty S với Ngân hàng theo đúng quy định pháp luật. Căn cứ theo khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, bà Huỳnh Thị Thanh T2 (vợ của ông Trần Minh D1) cũng chính là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, bà T2 biết toàn bộ nội dung vụ án từ thời điểm thụ lý vụ án cho đến khi xét xử sơ thẩm. Ông Trần Minh D1 là cũng chính là nhân viên của Công ty S và là người đã trực tiếp nhận các văn bản tố tụng do Tòa án nhân dân quận Bình Tân tống đạt nhưng bà Huỳnh Thị Thanh T2 và ông Trần Minh D1 đều không có yêu cầu tham gia vụ án. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bà Huỳnh Thị Thanh T2 và ông Trần Minh D1 đều xác nhận là biết nội dung vụ án tại giai đoạn xét xử sơ thẩm nhưng không yêu cầu tham gia tố tụng. Ngoài ra, tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, theo Kết quả xác minh của Công an phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (trả lời theo Công văn số 740/2021/TAQBT ngày 20/4/2021 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân), căn nhà trên đang có 01 hộ 01 nhân khẩu tên là Đoàn Ngọc Phi L đang thực tế cư trú từ ngày 03/01/2016. Vì vậy, Tòa án nhân dân quận Bình Tân không xác định bà Huỳnh Thị Thanh T2 và ông Trần Minh D1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có cơ sở.
Khoản 5 Điều 320 và khoản 6 Điều 321 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định bên thế chấp có nghĩa vụ cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp và phải thông báo cho bên thuê, bên mượn biết về việc tài sản cho thuê, cho mượn đang được dùng để thế chấp và phải thông báo cho bên nhận thế chấp biết. Khoản 1 và Khoản 2 Điều 23 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã quy định trong trường hợp bên thế chấp cho thuê hoặc cho mượn tài sản thế chấp mà không thông báo cho bên thuê hoặc bên mượn về việc tài sản đang được dùng để thế chấp theo quy định của Bộ luật Dân sự và gây ra thiệt hại thì phải bồi thường cho bên thuê hoặc bên mượn và hợp đồng cho thuê, cho mượn tài sản đang thế chấp chấm dứt khi tài sản thế chấp bị xử lý để thực hiện nghĩa vụ. Bên thuê, bên mượn phải giao tài sản cho bên nhận thế chấp để xử lý, trừ trường hợp bên nhận thế chấp và bên thuê, bên mượn có thoả thuận khác. Khoản 3 Điều 34 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ về quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cũng đã quy định trường hợp biện pháp thế chấp đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba mà bên thế chấp dùng tài sản thế chấp để cho thuê, cho mượn nhưng không thông báo cho bên nhận thế chấp biết thì hợp đồng thuê, hợp đồng mượn chấm dứt tại thời điểm xử lý tài sản thế chấp; quyền, nghĩa vụ giữa bên thế chấp và bên thuê, bên mượn được giải quyết theo thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mượn tài sản, quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan. Theo điểm h, i, khoản 2 Điều 7 Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2019/133438/73/HĐBĐ giữa ông Đoàn Lê Ngọc Phi L, bà Nguyễn Thị Kim T1 và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ – Chi nhánh B, bên thế chấp tài sản là ông L và bà T1 phải thông báo Ngân hàng về quyền lợi của bên thứ ba và không được cho thuê tài sản khi chưa có biện pháp bảo đảm thay thế, chưa có sự đồng ý của Ngân hàng. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm và trong quá trình giải quyết vụ án, các bên đều xác nhận ông Đoàn Lê Ngọc Phi L và bà Nguyễn Thị Kim T1 không thông báo cho Ngân hàng về Hợp đồng thuê nhà với ông Trần Minh D1 và bà Huỳnh Thị Thanh T2. Bên cạnh đó, theo Công văn xác minh số 5117/CV-CCTTP ngày 12/9/2023 của Chi cục thuế quận T (trả lời theo Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ số 3074/2023/QĐ- CCCC của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) thì hoạt động cho thuê tài sản này không thực hiện việc đăng ký thuế và kê khai thuế đối với căn nhà trên theo đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đoàn Lê Ngọc Phi L cũng xác nhận việc ông Trần Minh D1 và bà Huỳnh Thị Thanh T2 cư trú tại căn nhà trên, ông không thông báo cho tổ dân phố và chính quyền địa phương được biết. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy có căn cứ cho rằng ông Đoàn Lê Ngọc Phi L và bà Nguyễn Thị Kim T1 không ngay tình trong việc giao kết hợp đồng thuê nhà với ông Trần Minh D1 và bà Huỳnh Thị Thanh T2 và vi phạm hợp đồng thế chấp tài sản với Ngân hàng. Vì vậy, ông Trần Minh D1 có thể khởi kiện ông Đoàn Ngọc Phi L và bà Nguyễn Thị Kim T1 trong một vụ án khác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Minh D1 và bà Huỳnh Thị Thanh T2 liên quan đến Hợp đồng thuê nhà tại căn nhà số B đường A tháng E, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.”