Đề xuất Án lệ về nghĩa vụ bảo lãnh của Ngân hàng trong trường hợp hồ sơ bảo lãnh không đúng quy định
ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ NGHĨA VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG TRONG TRƯỜNG HỢP HỒ SƠ BẢO LÃNH KHÔNG ĐÚNG QUY ĐỊNH
Tình huống pháp lý:
Ngân hàng phát hành thư bảo lãnh cho bên thụ hưởng thông qua người đại diện tại chi nhánh nhưng sau đó cho rằng thư bảo lãnh không có trong hồ sơ nội bộ, không được hạch toán, không thu phí và việc ký bảo lãnh vượt quá phạm vi ủy quyền theo quy định nội bộ. Khi bên thụ hưởng khởi kiện yêu cầu ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh và ngân hàng viện dẫn các vi phạm quy trình nội bộ để từ chối trách nhiệm.
Nội dung đề xuất án lệ:
“[2] A không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T vì cho rằng T1 bảo lãnh vô hiệu. Quá trình giải quyết vụ án, A xác định ông H2 (nguyên Giám đốc A - Chi nhánh T.H) không có quyền đại diện cho A ký phát hành bảo lãnh vay vốn trong nước theo quy định tại Điều 21 Quyết định 398/QĐ-HĐQT-TD ngày 02/5/2007 về bảo lãnh Ngân hàng trong hệ thống A. Tuy nhiên, quy định nêu trên là quy định nội bộ của A, có giá trị ràng buộc nghĩa vụ của người đứng đầu Chi nhánh A (ông H2) phải biết và thực hiện. Việc ký T1 bảo lãnh vượt quá phạm vi ủy quyền của Giám đốc A – Chi nhánh T.H là lỗi của A và Chi nhánh A nên không thuộc trường hợp A được miễn hoặc chấm dứt nghĩa vụ bảo lãnh theo quy định tại Điều 28, Điều 29 Quy định bảo lãnh Ngân hàng trong hệ thống A (ban hành kèm theo Quyết định số 398/QĐ-HĐQT-TD ngày 02/5/2007 của Hội đồng quản trị A). Mặt khác, khi giao dịch với A, khách hàng như Công ty M.N và bà T không thể biết và không buộc phải biết các quy định nội bộ nêu trên, họ cũng không phải là đối tượng điều chỉnh của các quy định đó.
[3] Tòa án cấp giám đốc thẩm nhận định bà T buộc phải biết việc ông H2 (Giám đốc A – Chi nhánh T.H) ký T1 bảo lãnh có thuộc phạm vi ủy quyền hay không khi tham gia giao dịch với A và do bà T không thực hiện quyền của mình mà vẫn chuyển tiền cho Công ty M.N nên không thể buộc A thực hiện nghĩa vụ theo T1 bảo lãnh. Tuy nhiên, theo quy định của Ngân hàng thì T1 bảo lãnh là cam kết đơn phương bằng văn bản của Ngân hàng về việc Ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Việc kiểm tra, thẩm định hồ sơ xem khách hàng có đủ điều kiện được bảo lãnh hay không, có hồ sơ bảo đảm cho nghĩa vụ được bảo lãnh để từ đó chấp nhận hay từ chối bảo lãnh là nghĩa vụ của Chi nhánh A khi thực hiện thủ tục bảo lãnh. Bà T là người có quyền thụ hưởng bảo lãnh của A; bà T không liên quan đến việc lập hồ sơ, thẩm định, xét duyệt và ký T1 bảo lãnh của A là thật hay giả, đúng phạm vi ủy quyền hay không. Thực tế, để có cơ sở tin tưởng thực hiện hợp đồng vay tiền phục vụ sản xuất kinh doanh và chuyển tiền vào tài khoản của Công ty M.N mở tại A – Chi nhánh T.H nên khi nhận được T1 bảo lãnh bà T đã kiểm tra bằng cách yêu cầu A - Chi nhánh T.H xác nhận T1 bảo lãnh mà Chi nhánh A đã phát hành.
Vì vậy, nhận định nêu trên của Tòa án cấp giám đốc thẩm là không có cơ sở, không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án.”