Công bố thông tin về kết quả chào bán trái phiếu tại thị trường trong nước được quy định như thế nào?
Công bố thông tin về kết quả chào bán trái phiếu tại thị trường trong nước được quy định như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Công ty chúng tôi vừa hoàn tất một đợt chào bán trái phiếu tại thị trường trong nước. Để đảm bảo tuân thủ pháp luật sau khi kết thúc đợt chào bán, chúng tôi rất mong được Luật sư tư vấn các quy định liên quan đến công bố thông tin về kết quả chào bán trái phiếu tại thị trường trong nước. Xin cảm ơn Luật sư!
MỤC LỤC
1. Trái phiếu doanh nghiệp là gì?
Trả lời:
1. Trái phiếu doanh nghiệp là gì?
Trên cơ sở quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 200/2026/NĐ-CP ngày 05/6/2026 của Chính phủ về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế (sau đây gọi tắt là "Nghị định số 200/2026/NĐ-CP"), trái phiếu doanh nghiệp được giải thích như sau:
"Điều 4. Giải thích từ ngữ
Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Trái phiếu doanh nghiệp là loại chứng khoán có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do doanh nghiệp phát hành, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của doanh nghiệp phát hành.
…"
Theo đó, trái phiếu doanh nghiệp là loại chứng khoán có kì hạn ít nhất 01 năm do doanh nghiệp phát hành, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu đối với một phần nợ của doanh nghiệp phát hành. Như vậy, có thể hiểu, trái phiếu doanh nghiệp được xác định là một công cụ nợ có thời hạn tối thiểu 01 năm, xác lập trực tiếp quan hệ quyền và nghĩa vụ giữa chủ sở hữu trái phiếu và doanh nghiệp phát hành.
2. Công bố thông tin về kết quả chào bán trái phiếu tại thị trường trong nước được quy định như thế nào?
Công bố thông tin một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật là trách nhiệm của doanh nghiệp phát hành trái phiếu. Do đó, khi kết thúc đợt chào bán trái phiếu, doanh nghiệp phát hành phải thực hiện công bố thông tin về kết quả đợt chào bán cho các nhà đầu tư sở hữu trái phiếu và cho Sở giao dịch chứng khoán. Căn cứ theo Điều 30 Nghị định số 200/2026/NĐ-CP thì công bố thông tin về kết quả đợt chào bán được quy định như sau:
"Điều 30. Công bố thông tin về kết quả đợt chào bán
1. Chậm nhất 10 ngày kể từ ngày kết thúc đợt chào bán trái phiếu, doanh nghiệp công bố thông tin về kết quả đợt chào bán cho các nhà đầu tư sở hữu trái phiếu theo Mẫu số 07 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này và gửi nội dung công bố thông tin đến Sở giao dịch chứng khoán.
2. Trường hợp doanh nghiệp hủy đợt chào bán trái phiếu, chậm nhất 10 ngày kể từ ngày kết thúc việc phân phối trái phiếu, doanh nghiệp công bố thông tin cho các nhà đầu tư sở hữu trái phiếu và gửi nội dung công bố thông tin đến Sở giao dịch chứng khoán.
3. Sở giao dịch chứng khoán tiếp nhận nội dung công bố thông tin về kết quả chào bán trái phiếu theo quy định tại khoản 1 Điều này để tổng hợp, công bố thông tin trên chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp theo quy định tại Điều 38 và báo cáo về tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp theo quy định tại Điều 39 Nghị định này."
Dẫn chiếu đến Điều 38 và Điều 39 Nghị định số 200/2026/NĐ-CP quy định như sau:
"Điều 38. Chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp tại Sở giao dịch chứng khoán
1. Sở giao dịch chứng khoán có trách nhiệm:
a) Tổng hợp thông tin trên cơ sở nội dung thông tin tiếp nhận từ doanh nghiệp phát hành trái phiếu để thực hiện công bố thông tin trên chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều này và thực hiện chế độ báo cáo của Sở giao dịch chứng khoán theo quy định tại khoản 4 Điều 39 Nghị định này;
b) Xây dựng quy chế tiếp nhận, giám sát công bố thông tin và báo cáo đối với doanh nghiệp phát hành, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, vận hành chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp trình Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam ban hành sau khi có ý kiến của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; tổ chức, quản lý, vận hành chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp.
2. Chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp gồm các nội dung sau:
a) Tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp tại thị trường trong nước, bao gồm: tên doanh nghiệp phát hành, một số chỉ tiêu tài chính (dư nợ vay trái phiếu (bao gồm tất cả các hình thức vay trái phiếu), hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu, hệ số tổng dư nợ vay trái phiếu (bao gồm tất cả các hình thức vay trái phiếu)/vốn chủ sở hữu, hệ số thanh toán lãi vay (lợi nhuận trước thuế và lãi vay/lãi vay)), mã trái phiếu, đối tượng chào bán của từng mã trái phiếu, lãi suất phát hành, ngày phát hành, giá trị, mệnh giá, ngày đáo hạn, báo cáo thanh toán gốc lãi trái phiếu, công bố thông tin bất thường, kết quả xếp hạng tín nhiệm đối với trái phiếu thuộc các trường hợp phải xếp hạng tín nhiệm theo quy định, kết quả xếp hạng tín nhiệm đối với doanh nghiệp phát hành (nếu có);
b) Tình hình phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế, bao gồm: tên doanh nghiệp phát hành, ngày phát hành, giá trị, mệnh giá, ngày đáo hạn, thị trường phát hành, tình hình thanh toán lãi, gốc trái phiếu;
c) Tình hình đăng ký giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước, ngày giao dịch đầu tiên, điều chỉnh số lượng trái phiếu đăng ký giao dịch, hủy bỏ đăng ký giao dịch, thay đổi thông tin doanh nghiệp đăng ký giao dịch, thay đổi thông tin trái phiếu đăng ký giao dịch (nếu có);
d) Tình hình chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu, việc thực hiện quyền của chứng quyền, việc mua lại trái phiếu trước hạn, hoán đổi trái phiếu (nếu có);
đ) Thông tin khác theo thỏa thuận giữa Sở giao dịch chứng khoán và doanh nghiệp phát hành để cung cấp cho đối tượng được tiếp nhận thông tin theo quy chế tiếp nhận, giám sát công bố thông tin, báo cáo và vận hành chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp do Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam ban hành;
e) Thông tin về các trường hợp doanh nghiệp phát hành không thanh toán đầy đủ lãi, gốc trái phiếu, sử dụng vốn trái phiếu không đúng mục đích hoặc không thực hiện được các cam kết với nhà đầu tư và các trường hợp doanh nghiệp phát hành bắt buộc phải mua lại trái phiếu trước hạn theo báo cáo của tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, đại diện người sở hữu trái phiếu và công bố thông tin của doanh nghiệp phát hành (nếu có).
3. Nhà đầu tư và doanh nghiệp phát hành trái phiếu truy cập chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp để tìm hiểu thông tin về tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp theo quy chế tiếp nhận, giám sát công bố thông tin, báo cáo và vận hành chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp do Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam ban hành."
và
"Điều 39. Báo cáo của tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, đại diện người sở hữu trái phiếu, Sở giao dịch chứng khoán và Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam
1. Tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý và hằng năm cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
2. Đại diện người sở hữu trái phiếu thực hiện chế độ báo cáo cho Sở giao dịch chứng khoán định kỳ hàng quý, hằng năm và báo cáo trong trường hợp phát hiện doanh nghiệp phát hành có hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện các cam kết với nhà đầu tư.
3. Tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý, hằng năm cho Sở giao dịch chứng khoán.
4. Chế độ báo cáo của Sở giao dịch chứng khoán:
a) Sở giao dịch chứng khoán thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý, hằng năm cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về tình hình chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp gồm chào bán tại thị trường trong nước và chào bán ra thị trường quốc tế;
b) Ngoài chế độ báo cáo định kỳ theo quy định tại điểm a khoản này, Sở giao dịch chứng khoán báo cáo đột xuất cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo yêu cầu của cơ quan quản lý.
5. Chế độ báo cáo của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam:
a) Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý, hằng năm cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về tình hình đăng ký, lưu ký, chuyển quyền sở hữu, cơ cấu nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp chào bán riêng lẻ tại thị trường trong nước;
b) Ngoài chế độ báo cáo định kỳ theo quy định tại điểm a khoản này, Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam báo cáo đột xuất cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo yêu cầu của cơ quan quản lý.
6. Chế độ báo cáo của tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu, đại diện người sở hữu trái phiếu, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, Sở giao dịch chứng khoán và Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính."
Theo đó, trong chậm nhất 10 ngày kể từ ngày kết thúc đợt chào bán trái phiếu, doanh nghiệp phát hành tiến hành công bố thông tin về kết quả đợt chào bán cho các nhà đầu tư sở hữu trái phiếu theo Mẫu số 07 Phụ lục II Nghị định số 200/2026/NĐ-CP (bao gồm các thông tin như thông tin về doanh nghiệp phát hành, trái phiếu được chào bán, kết quả chào bán trái phiếu, các tổ chức liên quan tới đợt chào bán, cơ cấu vốn của doanh nghiệp phát hành sau đợt chào bán) và gửi nội dung công bố thông tin đến Sở giao dịch chứng khoán. Sau khi doanh nghiệp gửi nội dung công bố thông tin, Sở giao dịch chứng khoán tiếp nhận nội dung công bố thông tin về kết quả chào bán trái phiếu để tổng hợp, công bố thông tin trên chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp theo điều luật về Chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp tại Sở giao dịch chứng khoán và báo cáo về tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp theo quy định về báo cáo của tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, đại diện người sở hữu trái phiếu, Sở giao dịch chứng khoán và Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam.
Trong trường hợp hủy đợt chào bán trái phiếu, doanh nghiệp phát hành công bố thông tin cho các nhà đầu tư sở hữu trái phiếu và gửi nội dung công bố thông tin đến Sở giao dịch chứng khoán chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày kết thúc việc phân phối trái phiếu.
Có thể thấy, pháp luật đã đặt ra những nội dung rất rõ ràng về thời hạn, nội dung và thủ tục công bố thông tin về kết quả đợt chào bán trái phiếu tại thị trường trong nước. Cơ chế này không chỉ giúp nhà đầu tư cập nhật đầy đủ tình hình phát hành hoặc nắm bắt kịp thời trong trường hợp doanh nghiệp phát hành hủy đợt chào bán, mà còn nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc minh bạch hóa thông tin chào bán trái phiếu. Đồng thời, việc doanh nghiệp phát hành trái phiếu kết nối thông tin trực tiếp với Sở giao dịch chứng khoán tạo tiền đề cho việc quản lý, giám sát tập trung, bảo đảm an toàn cho toàn bộ thị trường.
Trân trọng./.