Đề xuất Án lệ về việc xác định lỗi của doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm trong Hợp đồng bảo hiểm
ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH LỖI CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM VÀ BÊN MUA BẢO HIỂM TRONG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
Tình huống pháp lý:
Trong thực tiễn xét xử tranh chấp bảo hiểm, pháp luật chưa quy định rõ cách phân bổ trách nhiệm khi cả doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm đều có lỗi. Trường hợp thường gặp là doanh nghiệp bảo hiểm không chứng minh đã giải thích điều khoản loại trừ, còn bên mua bảo hiểm không chủ động tìm hiểu hợp đồng. Do khoảng trống pháp lý này, các Tòa án cấp dưới có cách giải quyết khác nhau. Có vụ buộc doanh nghiệp bảo hiểm chịu toàn bộ trách nhiệm, có vụ cho rằng bên mua phải tự chịu rủi ro, hoặc coi việc không giải thích làm vô hiệu điều khoản loại trừ, hoặc chỉ là vi phạm thủ tục.
Nội dung đề xuất án lệ:
“[5] Về quy định loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong Hợp đồng bảo hiểm: khoản 2 Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định: “Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm phải được quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm phải giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng”; điểm a khoản 2 Điều 17 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định: “Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ: Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm”. Tại mục 2.1 Điều 2 của Hợp đồng bảo hiểm ngày 19/6/2019 giữa ông Nguyễn Thế L và Công ty B1 không ghi rõ các điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm mà chỉ ghi phạm vi bảo hiểm mọi rủi ro thân tàu theo Điều khoản bảo hiểm thân tàu cá do Tổng Công ty Cổ phần B ban hành kèm theo Quyết định số 0001/2017- BM/BHHH ngày 01/01/2017.
[6] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Minh H2 (là nhân viên của Công ty B1, người trực tiếp giao dịch bán bảo hiểm cho ông Nguyễn Thế L) có lời khai là đã giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm về các điều khoản bảo hiểm thân tàu cá (viết tắt là Điều khoản bảo hiểm) theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H2 trình bày: trước khi ký kết Hợp đồng thì hai bên trao đổi qua điện thoại. Sau khi ký kết, ông H2 chuyển Hợp đồng bảo hiểm cho ông L bằng gửi xe buýt, nhưng không gửi kèm theo bản Điều khoản bảo hiểm thân tàu cá ban hành kèm theo Quyết định số 0001/2017-BM/BHHH có quy định về loại trừ trách nhiệm bảo hiểm; ông H2 gửi cho ông Lưu b Điều khoản bảo hiểm bằng file pdf, không gửi bản giấy. Tuy nhiên, ông L xác định không nhận được bản Điều khoản bảo hiểm, Tổng Công ty Cổ phần B không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã giao bản Điều khoản bảo hiểm cho ông L.
[7] Về phía ông Nguyễn Thế L: tại mục 2.1 Điều 2 của Hợp đồng bảo hiểm ngày 19/6/2019 giữa ông L và Công ty B1 quy định phạm vi bảo hiểm mọi rủi ro thân tàu theo Điều khoản bảo hiểm ban hành kèm theo Quyết định số 0001/2017- BM/BHHH ngày 01/01/2017 của Tổng Công ty Cổ phần B. Tại điểm b khoản 1 Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy định quyền của bên mua bảo hiểm: ""Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm”. Ông L đã không tìm hiểu và cũng không yêu cầu Công ty B1 giải thích rõ về các điều khoản bảo hiểm. Mặt khác, tại Giấy yêu cầu bảo hiểm tàu cá ngày 19/6/2019 của ông Nguyễn Thế L có ghi rõ “Sau khi được cung cấp các điều khoản và/hoặc qui tắc bảo hiểm cũng như được tư vấn đầy đủ về sản pham bảo hiểm liên quan, tôi xin cam kết những điều kê khai trên đây về mọi phương diện là chính xác và đúng sự thật, không che dấu bất cứ một thông tin nào làm ảnh hưởng đến việc nhận bảo hiểm”. Ông L đã ký tên và thừa nhận là chữ ký của mình trong Giấy yêu cầu bảo hiểm.
[8] Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa xem xét đến quyền, nghĩa vụ của các bên khi giao kết Hợp đồng bảo hiểm để xác định mức độ lỗi của các bên nhưng đã xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đều không đủ cơ sở. Do đó, cần phải hủy Quyết định giám đốc thẩm, Bản án dân sự phúc thẩm và Bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.”