Đề xuất Án lệ về việc thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai
ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC THẾ CHẤP TÀI SẢN ĐỂ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TRONG TƯƠNG LAI
Tình huống pháp lý:
Bộ luật Dân sự cũng như các văn bản quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đều chưa làm rõ trường hợp bên thế chấp giao kết hợp đồng thế chấp với Ngân hàng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai của bên thứ ba/bên vay (bên thế chấp không đồng thời là bên vay) theo thì khi Ngân hàng và bên vay giao kết hợp đồng tín dụng có phải thực hiện nghĩa vụ thông báo cho bên thế chấp về hợp đồng tín dụng hay không? Bên thế chấp có quyền được biết, được có ý kiến đồng ý hoặc không đồng ý thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng hay không? Do các quy định pháp luật chưa rõ ràng nên các cơ quan tiến hành tố tụng còn có quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật ngay cả khi các bên không thông báo cho bên thế chấp biết về hợp đồng tín dụng. Quan điểm khác cho rằng bên thế chấp phải được biết về hợp đồng tín dụng và đồng ý dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng thì hợp đồng thế chấp mới có hiệu lực pháp luật.
Nội dung đề xuất án lệ:
“[22] Tại khoản 2 Điều 1 của Hợp đồng thế chấp QSDĐ của bên thứ ba số 02/08/HĐ ngày 19/9/2008 các bên thỏa thuận cụm từ “và các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng cấp bảo lãnh khác...” là thỏa thuận về mặt nguyên tắc. Tuy nhiên, đối với các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng cấp bảo lãnh khác giữa Ngân hàng B1 và Công ty  được ký kết sau ngày 19/9/2008 thì đều phải có xác nhận của Công ty X thì mới đảm bảo về mặt pháp lý rằng Công ty X biết, đồng ý bảo lãnh cho cho Hợp đồng tín dụng cụ thể giữa Ngân hàng B1 và Công ty Â…
[24] … Tại cấp phúc thẩm, Ngân hàng B1 không xuất trình được chứng cứ mới chứng minh Ngân hàng B1 đã thông báo cho Công ty X về việc Công ty  ký HĐ tín dụng số 03/08/HĐ-02/1574952 ngày 30/9/2008 và Biên bản sửa đổi hợp đồng tín dụng số 03/08/HĐ-02/157452/BB ngày 27/11/2009 với Ngân hàng B1, không chứng minh được Công ty X biết và đồng ý bảo đảm cho khoản vay của Công ty  theo 03/08/HĐ-02/1574952 ngày 30/9/2008 và Biên bản sửa đổi hợp đồng tín dụng số 03/08/HĐ-02/157452/BB ngày 27/11/2009 với Ngân hàng B1. Do đó, HĐXX không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng B1 và kháng nghị của Viện kiểm sát về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng B1 yêu cầu phát mãi QSDĐ của Công ty X để thu hồi nợ của Công ty  theo 03/08/HĐ-02/1574952 ngày 30/9/2008 và Biên bản sửa đổi hợp đồng tín dụng số 03/08/HĐ-02/157452/BB ngày 27/11/2009.”