ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ LÀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ TÍNH CÔNG SỨC QUẢN LÝ, TÔN TẠO DI SẢN THỪA KẾ

Tình huống pháp lý:

Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, phát sinh vướng mắc về việc xác định và phân chia giá trị công sức quản lý, tôn tạo di sản thừa kế. Hiện tồn tại hai quan điểm: quan điểm thứ nhất cho rằng giá trị công sức này phải được phân chia cho tất cả các đồng thừa kế; trong khi quan điểm thứ hai cho rằng chỉ phân chia cho những đồng thừa kế không trực tiếp quản lý, tôn tạo di sản. Sự khác biệt trong cách hiểu và áp dụng pháp luật này dẫn đến thực tiễn xét xử chưa thống nhất, cần có định hướng áp dụng thống nhất.

Nội dung đề xuất án lệ:

“[3] Tuy nhiên, khi chia di sản thừa kế, Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm xác định diện tích 7.649m2 đất lúa của cụ P không có lối đi ra đường là không đúng. Tại “Sơ đồ chia đất (kèm theo bản ản)" đính kèm Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2019/DS-ST ngày 22/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam thể hiện phía Đông, phía Bắc diện tích đất của cụ P có đường đi. Tại Biên bản xác mình và thu thập chứng cứ ngày 28/4/2021 do Tòa án cấp phúc thẩm xác minh thể hiện các cạnh phía Bắc, Đông, Tây phần đất lúa của cụ P đều có đường đi bằng đất, bê tông rộng hẹp khác nhau, từ 01m đến 08m. Tại bản đồ địa chính năm 1986 cũng đã thể hiện phía Đông, phía Bắc thửa đất của cụ P đều giáp đường đi, sơ đồ ghi là đường. Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng đây là đường nội đồng, nên chia đôi phần đất diện tích 1.120m2 gồm các thửa đất số 280 diện tích 500m2 (300m2 đất trồng cây và 200m2 đất thổ cư), thửa đất số 282 diện tích 620m2 loại đất ao của gia đình ông H, bà HI theo chiều dọc để làm lối đi cho các ông, bà S, N, V, Thanh đi vào phần đất ruộng của cụ P là không đúng. Đồng thời phần đất của gia đình ông H, bà H1 nêu trên không phải là di sản thừa kế của cụ P, nên Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm lấy đất của gia đình ông H, bà H1 để làm lối đi cho các ông, bà S, N, V, Thanh là vi phạm quyền lợi của gia đình ông H, bà H.

[4] Về công duy trì tôn tạo di sản, thấy rằng từ năm 1981 các ông, bà S, N, V, Thanh đã đi thoát ly, đi bộ đội, đi xây dựng gia đình ở nơi khác; chỉ có duy nhất gia đình ông H ở lại thôn B, xã T1, thành phố P, tỉnh Hà Nam với cụ P, chăm sóc cụ P, cùng canh tác và bảo quản, giữ gìn diện tích đất lúa của cụ P. Do đó, cần xác định gia đình ông H đã có công bảo quản di sản của cụ P từ năm 1991 đến nay, đã được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tính công sức quản lý, duy trì di sản cho gia đình ông H 30.000.000 đồng là chưa thỏa đáng. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm tính công sức cho gia đình ông H là 30.000.000 đồng, nhưng tại mục 3 phần quyết định của Bản án sơ thẩm lại chỉ buộc các ông, bà S, N, V, Thanh, mỗi người trả gia đình ông H 6.000.000 đồng, tổng là 24.000.000 đồng là không chính xác. Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là chưa phù hợp. Do gia đình ông H là người địa phương, trực tiếp sử dụng đất nông nghiệp, nên việc xem xét chia công sức cho gia đình ông H bằng hiện vật là hợp lý.

[5] Như vậy, cần xác định di sản của cụ P, cụ P là 7.649m2 đất lúa, phần đất này chia cho 06 kỷ phần bao gồm 05 kỷ phần là phần thừa kế của các ông, bà S, Hải, N, V, Thanh và 01 kỷ phần công sức của gia đình ông H. Khi chia di sản thừa kế của cụ P, cụ P bằng hiện vật, nên chia cho gia đình ông H phần đất giáp với diện tích đất của gia đình ông H.”