ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC CHUYỂN GIAO GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT KHI XÁC LẬP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN GIỮA CÁC CÁ NHÂN

Tình huống pháp lý:

Trên thực tế giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng vay tài sản có phát sinh vấn đề đối với thỏa thuận giao vật bên vay giao cho bên vay một vật nào đó để “làm tin” ví dụ như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy tờ đăng ký xe ô tô. Khi khởi kiện ra tòa bên vay yêu cầu bên cho vay phải trả lại những giấy tờ trên.

Nội dung đề xuất án lệ:

“[3.1] Bà Lê Thị Thu V và ông Trần Văn T1 đều thừa nhận rằng trong giao dịch vay tiền giữa hai bên đương sự, ông Trần Văn T1 (người vay) có đưa giấy CNQSDĐ cho bà Lê Thị Thu V (người cho vay) giữ, để bảo đảm cho khoản tiền vay. Mặc dù bà Lê Thị Thu V và ông Trần Văn T1 đều không xuất trình được chứng cứ bằng văn bản để xác định rõ ràng về sự việc này, nhưng việc bà Lê Thị Thu V, cho đến ngày hôm nay, vẫn còn đang giữ 03 (ba) giấy CNQSDĐ (do ông Trần Văn T1 đứng tên chủ sử dụng), là sự việc có thật; đó là những giấy CNQSDĐ do UBND huyện C cấp, liệt kê sau đây:

-Giấy CNQSDĐ số AB114403 (số vào sổ cấp giấy CN: H00073) ngày 31/12/2004; giấy CNQSDĐ số AB793522 (số vào sổ cấp giấy CN: H00372) ngày 01/03/2005; giấy CNQSDĐ số AĐ870632 (số vào sổ cấp giấy CN: H01421)ngày 07/06/2005.

Sự việc ông Trần Văn T1 giao giấy CNQSDĐ cho bà Lê Thị Thu V thủ giữ nói trên, tuy không được xem là giao dịch “Thế chấp QSDĐ” hợp pháp để bà Lê Thị Thu V có thể trở thành “Chủ nợ có bảo đảm” trong giao dịch vay tiền xác lập với ông Trần Văn T1 (vì không hội đủ những điều luật định đối với giao dịch thế chấp QSDĐ), nhưng đây là việc làm thường xảy ra trong xã hội, mà các bên tham gia thường gọi dưới tên là “Giữ giấy CNQSDĐ/giấy chứng nhận về quyền tài sản....để làm tin”; hậu quả kéo theo là, người vay tiền (con nợ)-cùng là người đứng tên giấy chứng nhận, sẽ bị hạn chế một số quyền dân sự (đối với tài sản do mình đứng tên) trong khoảng thời gian chưa trả hết tiền cho người cho vay (chủ nợ); sự việc này xảy ra, là do sự thỏa thuận tự nguyện giữa hai bên và không trái pháp luật. Do đó, việc Tòa án cấp phúc thẩm tuyên bố ràng ông Trần Văn T1 chỉ được nhận lại giấy CNQSDĐ khi đã trả hết tiền cho bà Lê Thị Thu V, là đúng pháp luật.”