ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC CHIA DI SẢN THỪA KẾ LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP BẰNG HIỆN VẬT

Tình huống pháp lý:

Di sản do người chết để lại là quyền sử dụng đất nông nghiệp đang do một số người thừa kế quản lý, khai thác, sử dụng; những người thừa kế khác tuy không có nhu cầu sử dụng, canh tác đất hoặc không đủ điều kiện để canh tác, sử dụng đất cũng có yêu cầu được chia thừa kế bằng hiện vật.

Nội dung đề xuất án lệ:

“[2.1.7] về phân chia thừa kế đất nông nghiệp: Diện tích đất nông nghiệp cụ H3 và cụ Đ3 để lại là 1004,85m2 đất trị giá 80.388.000d được chia cho 06 thừa kế (do các thừa kế của ông L2 từ chối nhận di sản), mỗi thừa kế được nhận 167,475m2 trị giá 13.398.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Đ yêu cầu nhận giá trị thừa kế đối với đất nông nghiệp của bố mẹ để lại, sau đó ông Đ lại có ý kiến đề nghị chuyển nhượng đất nông nghiệp của bố mẹ để chia đều cho các thừa kế và trong thời gian chưa bán được thì phân cho từng người trông nom, thu hoạch và tại phiên tòa sơ thẩm ông Đ lại thay đổi ý kiến yêu cầu được nhận thừa kế đất ở và đất nông nghiệp của bố mẹ để lại bằng hiện vật. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ có lời khai thể hiện ông là cán bộ nghỉ hưu sống tại Hà Nội, nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp cũng không nhiều nhưng do ông chưa được hưởng tài sản của bố mẹ nên yêu cầu chia thừa kế đất nông nghiệp và đề nghị được nhận bằng hiện vật. Xét thấy ông Đ là cán bộ nghỉ hưu, đã cao tuổi (72 tuổi) sống tại Hà Nội, không trực tiếp sử dụng đất nông nghiệp, không sinh sống tại địa phương nơi có đất nông nghiệp, bản thân ông Đ cũng thừa nhận không có nhiều nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp mà chỉ có nguyện vọng nhận đất để thể hiện ông được thừa hưởng tài sản của bố mẹ để lại. Lời khai của ông Đ liên quan đến phân chia thừa kế đất nông nghiệp nêu trên thể hiện ông Đ không có nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp và thực tế từ trước đến nay ông Đ cũng không quản lý, sử dụng đất nông nghiệp của hai cụ để lại, không phải là người trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Trong khi đó, các đồng thừa kế khác là anh, chị em của ông Đ là bà M, ông T sinh sống tại địa phương và đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất nông nghiệp của hai cụ để lại; anh KI và anh K (là con ông K2 và cháu của ông Đ) sống chung cùng với cụ H3, cụ Đ3; được chia chung đất nông nghiệp theo tiêu chuẩn hộ gia đình cùng hai cụ cũng quản lý, sử dụng diện tích đất được chia theo tiêu chuẩn và cùng với ông T, bà M quản lý, sử dụng một phần diện tích đất nông nghiệp của hai cụ để lại. Đối với bà H, tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đều xác định bà H vẫn ở nước ngoài (Đức) từ năm 1989 đến nay.

[2.1.8] Trên cơ sở hiện trạng quản lý, sử dụng đất nông nghiệp và nhu cầu thực tế của các đương sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy Tòa án cấp sơ thẩm chia thừa kế đất nông nghiệp của cụ H3, cụ Đ3 để lại theo pháp luật và cho ông Đ nhận thừa kế đất nông nghiệp bằng giá trị là phù hợp; tuy nhiên bà H đi lao động và làm việc ở nước ngoài đã lâu, đến thời điểm xét xử phúc thẩm bà H vẫn chưa về nước nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chia cho bà H nhận thừa kế đất nông nghiệp bằng hiện vật chung với bà M, ông T và những người thừa kế của ông K2 tại khu Đ là không phù hợp nên cần sửa lại theo hướng chia cho bà H nhận thừa kế đất nông nghiệp bằng giá trị và giao diện tích đất nông nghiệp tại khu Đ cho ông T, bà M và những người thừa kế của ông K2 là những người đang trực tiếp quản lý, sử dụng được tiếp tục quản lý, sử dụng. Đối với ông C sống tại địa phương, được chia đất nông nghiệp theo tiêu chuẩn và quản lý, thu hoạch cây trồng trên phần diện tích xung quanh đất thổ cư của hai cụ, không quản lý sử dụng đất nông nghiệp của bố mẹ để lại nên Tòa án cấp sơ thấm chia đất nông nghiệp cho các thừa kế đang quản lý, sử dụng thực tế và chia cho ông C nhận thừa kế đất nông nghiệp bằng giá trị. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông C không kháng cáo về việc Tòa án cấp sơ thẩm chia cho ông nhận thừa kế đất nông nghiệp bằng giá trị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét. Tại Biên bản xác minh ngày 07/8/2025 đối với cán bộ địa chính xã T và Trưởng thôn L, xã T theo yêu cầu của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội thê hiện: " Sau thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các hộ gia đình thực hiện việc đổi đất, đến năm 2005 Nhà nước thực hiện đo đạc nên có sự thay đồi về số tờ bản đồ, số thửa tại Bản đồ năm 2005. Sau khỉ thực hiện việc đo đạc bản đồ, các hộ gia đỉnh vân tiếp tục đổi đất, chuyển nhượng, thu hồi đất nên có sự thay đôi hiện trạng so với Bản đồ năm 2005 đến nay không xác định được so thửa, số tờ bản đồ nhưng chính quyền địa phương xác định hiện trạng sử dụng đất của gia đình theo sơ đồ Tòa án thực hiện đo vẽ là đúng. Các đương sự đã thống nhất trình bày các thửa đất tại khu Đ, khu M, khu Đ, 2, 3. Đất cấp theo tiêu chuẩn lá đất nông nghiệp nên đất ruộng, đất bãi triều chỉ là cách gọi của địa phương đối với phần đất trũng cấy lúa quanh năm (đắt triều), còn phần đất cao hơn có thể trồng hoa màu (đất bãi)”.

[2.1.9] Từ những lập luận và phân tích nêu trên thấy bà Phạm Thị H đang sống ở nước ngoài, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chia cho bà H nhận thừa kế đất nông nghiệp bằng hiện vật là không phù hợp nên cần sửa lại theo hướng chia cho bà H nhận thừa kế đất nông nghiệp bằng giá trị và giao diện tích 987,4m2 đất tại khu Đ cho những người đang trực tiếp quản lý, sử dụng là ông T, bà M, anh KI (đại diện cho các thừa kế của ông K2) quản lý, sử dụng và những người này có trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch so với kỷ phần được hưởng cho ông Đ, ông C và bà H.”