ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ TRƯỜNG HỢP TRANH CHẤP KHOẢNG KHÔNG GIAN TRÊN ĐẤT

Tình huống pháp lý:

Hành vi lấn chiếm khoảng không trên đất người khác được hiểu là hành vi xây dựng ban công, và xây dựng mái che, mái nhà,… lấn chiếm sang khoảng không gian không thuộc sở hữu của mình. Trên thực tế, do luật không có quy định cụ thể, nên khó xác định được độ cao theo chiều không gian và độ sâu theo chiều lòng đất là cao đến đâu, sâu bao nhiêu mét và căn cứ vào đâu để xác định chiều theo phương thẳng đứng đó phù hợp với quy định của pháp luật, đặc biệt với thực tiễn các khu nhà tập thể cũ hiện nay, tình trạng các hộ gia đình làm thêm các lồng sắt (chuồng cọp) để cơi nới thêm diện tích sinh hoạt của gia đình thì có đúng quy định của pháp luật không?

Nội dung đề xuất án lệ:

“Diện tích đất của hộ bà L, ông T không chồng lấn vào diện tích của các hộ liền kề, không xâm phạm vào công trình ngầm nào khác.

Trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các căn hộ tại Tập thể BDNTW ngõ 409 K có ghi nhận phần đất lưu không xung quanh khu tập thể. Nhưng tại biên bản bàn giao nhà ở, đất ở đối với nhà 5 tầng Khu tập thể BDNngõ 409 K lập ngày 23 tháng 6 năm 2006 thì hồ sơ đất của khu nhà đã bị thất lạc nên không xác định được diện tích khoảng lưu không của khu nhà là bao nhiêu.

Tại phiên tòa cũng như trong các bản khai, phía bị đơn không có tài liệu nào để làm rõ được khoảng lưu không của khu tập thể là bao nhiêu mét.

Tại phiên tòa ngày 17/5/2023, Hội đồng xét xử đã ra Quyết định tạm ngừng phiên tòa để chờ văn bản trả lời của UBND quận B và Công ty TNHH MTV Quản lý và phát triển nhà Hà Nội, trả lời theo phiếu chuyển đơn của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị T1. Đến thời điểm xét xử, bà T1 xuất trình Công văn số 661/QLPTN-TNBN ngày 29/5/2023 của Công ty TNHH MTV Quản lý và phát triển nhà Hà Nội và Công văn số 1073/UBND-QLĐT ngày 20/6/2023 của UBND quận B có nội dung việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy phép xây dựng cho cho ông T bà L là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Tại Công văn số 285 ngày 24/5/2023 của Phòng quản lý đô thị UBND quận B có nội dung: Việc cấp giấy phép xây dựng số 765 ngày 17/12/2015 cho hộ ông T, bà L tại địa chỉ số 14 ngõ 409 K là phù hợp với quy định tại Mục 3 Điều 103 Luật Xây dựng 2014. Diện tích đất của ông T bà L không lấn vào diện tích các hộ liền kề, không xâm phạm vào công trình ngầm nào khác.

Xét trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã được UBND quận B cấp cho ông Trần Anh T, bà Mai Thị Nhật L đúng theo quy định của pháp luật. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông T, bà L là có căn cứ được chấp nhận. Buộc bà Nguyễn Thị T1 – chủ sở hữu căn hộ 302 khu tập thể 5 tầng BDN, ngõ 409 phố K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội phải tháo dỡ toàn bộ phần lồng sắt lấn chiếm, trả lại khoảng không trên thửa đất tại địa chỉ số 14 ngõ 409 phố K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội cho gia đình ông T và bà L.

Trong các bản tự khai, biên bản hòa giải, bị đơn là bà Nguyễn Thị T1 đã khẳng định lồng sắt đua ra phía ngoài không nằm trong diện tích đất gia đình bà T1 được cấp giấy chứng nhận, phần lồng sắt đua ra nằm trên đất lưu không của khu tập thể,

cụ thể đất lưu không của khu tập thể là bao nhiêu mét và tài liệu chứng cứ chứng minh bà T1 không biết. Bà T1 có đơn phản tố đề nghị Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà UBND quận B đã cấp cho ông Trần Anh T, bà Mai Thị Nhật L trong khi lồng sắt đua ra phía ngoài không nằm trong diện tích đất gia đình bà T1 được cấp giấy chứng nhận nên bà T1 không có quyền phản tố. Vì vậy Tòa án đã không thụ lý yêu cầu phản tố của bà.”