Đề xuất Án lệ về quyền khởi kiện của người thứ ba đối với tài sản đã bị kê biên để thi hành án
ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ QUYỀN KHỞI KIỆN CỦA NGƯỜI THỨ BA ĐỐI VỚI TÀI SẢN ĐÃ BỊ KÊ BIÊN ĐỂ THI HÀNH ÁN
Tình huống pháp lý:
Phát sinh tranh chấp khi tài sản bị kê biên để thi hành án nhưng có người thứ ba cho rằng tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của mình trên cơ sở giao dịch dân sự đã được xác lập trước đó. Tranh chấp không nằm ở hiệu lực của giao dịch dân sự giữa các bên mà ở việc xác định chủ thể có quyền đối với tài sản bị kê biên. Việc kê biên đã trực tiếp xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba, làm phát sinh tranh chấp về quyền đối với tài sản. Tranh chấp này cần được Tòa án giải quyết để xác định căn cứ tiếp tục hay chấm dứt việc cưỡng chế thi hành án.
Nội dung đề xuất án lệ:
“[6] Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu của anh Ngô Quyền O, yêu cầu công nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, số công chứng 8822, quyển số 09TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20-9-2018, tại Phòng C, giữa ông Ngô Minh G, bà Trần Thị Ngọc L, với anh Ngô Quyền O, là hợp pháp và công nhận diện tích đất 86,9 m2, thuộc thửa số 389, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, là tài sản hợp pháp của anh O là chưa đúng theo quy định tại Điều 75 Luật thi hành án dân sự và Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự bởi anh O là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, việc ông Q yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, số công chứng 8822, quyển số 09TP/CC- SCC/HĐGD ngày 20-9-2018, tại Phòng C, giữa ông Ngô Minh G, bà Trần Thị Ngọc L, với anh Ngô Quyền O làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của anh O nên anh O có quyền yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng quyền sử dụng đất, số công chứng 8822, quyển số 09TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20-9-2018, tại Phòng C, giữa ông Ngô Minh G, bà Trần Thị Ngọc L, với anh Ngô Quyền O. Yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ cho rằng giữa ông G, bà L và anh O không có tranh chấp, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã thực hiện công chứng, chứng thực nên theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 17 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thì Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C có trách nhiệm xem xét giải quyết thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định, do đó yêu cầu này của anh O không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm nên đình chỉ đối với yêu cầu này của anh O theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 và điểm đ khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự là không đúng…”