Đề xuất Án lệ về nghĩa vụ tài sản của bên thế chấp trong trường hợp bên thế chấp chết
ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ NGHĨA VỤ TÀI SẢN CỦA BÊN THẾ CHẤP TRONG TRƯỜNG HỢP BÊN THẾ CHẤP CHẾT
Tình huống pháp lý:
Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án, có trường hợp bên thế chấp dùng tài sản của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên thứ ba/bên vay với ngân hàng. Trong thời gian có hiệu lực của hợp đồng vay tài sản và hợp đồng thế chấp tài sản, bên thế chấp chết. Sau đó, do bên vay không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán, ngân hàng khởi kiện tại Tòa án yêu cầu bên vay trả nợ, trường hợp không trả được nợ thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ theo hơp đồng tín dụng. Về vấn đề này có hai quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng trường hợp này thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết (bên thế chấp) để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế, theo quy định tại khoản 3 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015; do vậy, nếu có đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu và thời hạn 03 năm đã hết thì người thừa kế không phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết từ tài sản thế chấp. Quan điểm khác cho rằng khi bên thế chấp chết, phần nghĩa vụ của bên thế chấp theo hợp đồng thế chấp vẫn tồn tại nên hợp đồng thế chấp vẫn có hiệu lực, đây không phải là trường hợp yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Nội dung đề xuất án lệ:
“[3] “Về phạm vi bảo đảm, xét thấy, các khoản vay theo các Hợp đồng tín dụng số 04, 05, 06 đều nhằm mục đích phục vụ sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế gia đình nên đây là khoản nợ chung, anh Tr hay chị H đều có nghĩa vụ trả nợ. Theo thỏa thuận của các bên tại hợp đồng thế chấp ngày 25/6/2010, tài sản đứng tên ông Tr1, bà N bảo đảm cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của anh Tr, chị H. Khi chị H chết (năm 2017), nghĩa vụ của chị H không chấm dứt và được bảo đảm bằng tài sản là nhà đất tại số 456 đường N của ông Tr, bà N. Đồng thời khi ông Tr1 chết (năm 2016), phần nghĩa vụ của ông Tr1 theo hợp đồng thế chấp nêu trên vẫn tồn tại. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định chỉ có HĐTD số 04 là thỏa mãn yêu cầu bảo đảm của hợp đồng thế chấp (bên vay là anh Tr, chị H); chị H đã chết năm 2017, thời hiệu yêu cầu đối với những người thừa kế của chị H đã hết theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu áp dụng thời hiệu; từ đó quyết định đình chỉ một phần yêu cầu của Ngân hàng về nội dung khởi kiện yêu cầu phát mại tài sản của ông Tr1, bà N đối với nghĩa vụ của chị H tại HĐTD số 04 và quyết định trường hợp anh Tr không trả được nợ phát sinh từ HĐTD số 04, Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp là nhà đất tại số 456 N, số tiền phát mại tài sản sau khi thanh toán / số dư nợ gốc, lãi của HĐTD 04 nếu còn thừa sẽ trả lại cho bà N, anh T là không có cơ sở, không đúng sự thỏa thuận của các bên tại hợp đồng thế chấp.
[4] Bên cạnh việc nhận định về phạm vi bảo đảm của tài sản thế chấp như Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng thời hiệu để Ngân hàng khởi kiện đối với phần nghĩa vụ của ông Tr1 theo Hợp đồng thế chấp đã hết nên những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Tr 1 không phải thực hiện nghĩa vụ của ông Tr1 về việc xử lý tài sản bảo đảm cho khoản nợ của anh Tr, chị H; từ đó quyết định chỉ xử lý tài sản thế chấp này để bảo đảm cho % phần nghĩa vụ của anh Tr theo HĐTD số 04 là không phù hợp với sự thỏa thuận của các bên tại hợp đồng thế chấp. Ở đây cần phải xác định Hợp đồng thế chấp đã được xác lập phù hợp với quy định của pháp luật và đã phát sinh hiệu lực trước khi ông Tr chết; đây không phải là trường hợp “Yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại” quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự.”