THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 17/TB-VC1-V4 NGÀY 10/4/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI VỀ VỤ ÁN “CHIA DI SẢN THỪA KẾ VÀ YÊU CẦU HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT”

Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Về việc cấp Giấy CNQSD đất:

Tuy UBND huyện KM không cung cấp được hồ sơ cấp Giấy CNQSD đất cho ông Th và bà T, nhưng theo các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập trong quá trình giải quyết vụ án, thấy rằng:

- Nội dung Đơn xin cho tặng thừa kế quyền sử dụng đất thể hiện cụ C tặng cho, thừa kế cho ông Trần Văn Th diện tích 772m đất gồm có chữ ký của cụ C, ông Th, người làm chứng là bà Trần Thị H, hộ giáp ranh là ông Trương Văn T, cán bộ địa chính và xác nhận của địa phương. Tuy nhiên, cụ Trần Văn C chết ngày 06/7/2004, nhưng Đơn xin cho tặng, thừa kế quyền sử dụng đất và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đều được lập ngày 16/8/2004 (tức là sau khi cụ C chết) và các thủ tục khác phát sinh liên quan đến nghĩa vụ tài chính đều trong tháng 08, tháng 09 năm 2004.

- Tại Biên bản lấy lời khai ông Dương Quốc B - nguyên cán bộ Địa chính xã HT, ông B xác định ông Th là người nộp đơn này cho xã, do ông Th là con trai duy nhất sống cùng cụ C nên ông B tin tưởng đây là ý chí của cụ C và cụ C không ký trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền. Trên cơ sở đó, UBND xã đã hướng dẫn ông Th làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ có ông Th ký để xin các cấp xác nhận. Việc mâu thuẫn về thời gian giữa thời điểm cụ C đã mất với thời điểm ký các văn bản trên ông B không giải thích được lý do.

- Bà Trần Thị H và ông Trương Văn T là những người có chữ ký trong Đơn xin cho tặng, thừa kế quyền sử dụng đất xác định đúng chữ ký của họ, nhưng việc cụ C có ký vào văn bản đó hay không thì ông, bà không nắm được.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác định bên chuyển nhượng là cụ Trần Văn C và bên nhận chuyển nhượng là ông Trần Văn Th, tuy nhiên chỉ có ông Th ký tên mà không có chữ ký của cụ C. Hợp đồng có đầy đủ phần ghi của cơ quan nhà nước nhưng đều sau ngày 16/8/2004.

Quá trình làm việc, ông Th xác định không nhất quán về việc ký các văn bản trên, lúc thì ông xác định không phải chữ ký của ông trong các Đơn xin cho tặng, thừa kế quyền sử dụng đất; lúc thì trình bày thủ tục sang tên là do cụ C làm, ông chỉ việc ký cho đủ thủ tục.

- Ngày 21/3/2004, UBND huyện KM cấp Giấy CNQSD đất số 1077 QSDĐ/HT-KM chứng nhận ông Trần Văn Th và bà Vũ Thị T được quyền sử dụng đối với diện tích 772m tại thửa đất số 402, tờ bản đồ số 1, trong đó có 300m2 đất ở và 472m2 đất vườn.

Như vậy, Giấy CNQSD đất được cấp cho ông Th, bà T trước ngày lập Đơn xin cho tặng, thừa kế quyền sử dụng đất và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ cụ C sang ông Th, đồng thời các giấy tờ này đều sau ngày 16/8/2004. Quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn đề nghị giám định chữ ký, ngày tháng ghi trong đơn xin cho tặng thừa kế quyền sử dụng đất nhưng không được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận. Ngày 21/3/2004, UBND huyện KM cấp Giấy CNQSD đất cho ông Th, bà T là thực hiện không đúng trình tự, thủ tục cấp giấy CNQSDĐ và quy trình kiểm tra, thẩm định theo khoản 1 mục I. 3 Phần 2 Thông tư số 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp GCNQSDĐ, do đó có căn cứ để hủy Giấy CNQSDĐ số 1077QSDĐ/HT-KM ngày 21/3/2004 của UBND huyện KM đã cấp cho ông Th và bà T.

Bản án sơ thẩm tuyên hủy Giấy CNQSDĐ cấp cho ông Th và bà T là đúng pháp luật. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm có một số vi phạm như sau:

Thứ nhất, về giải quyết yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ C và cụ L:

- Về xác định giá đất: Theo Giấy CNQSDĐ số 1077 ngày 22/12/2002 cấp cho cụ Trần Văn C và Giấy CNQSDĐ số 1077 ngày 21/3/2004 cấp cho ông Trần Văn Th và bà Vũ Thị T thì thửa đất số 402A, 402B (nay là thửa đất số 402), tờ bản đồ số 1 có diện tích 772m trong đó có 300m đất ở và 472m đất vườn. Theo quy định của Nhà nước thì khung giá đất áp dụng với đất ở và đất vườn là khác nhau. Quá trình giải quyết vụ án Hội đồng định giá chỉ xác định giá đất theo vị trí đất, cụ thể: Vị trí đất phía Tây giáp đường trục chính có giá là 15.000.000 đồng/m’; vị trí đất phía Đông giáp ngõ đi có giá là 6.000.000 đồng/m là không đúng. Trên cơ sở đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định tổng giá trị khối di sản thừa kế là đất=8.694.300.000 đồng cũng là không đúng.

- Về chia di sản bằng hiện vật: Từ việc xác định không rõ từng loại đất dẫn đến xác định giá trị quyền sử dụng đất chưa chính xác nên khi chia di sản bằng hiện vật, Tòa án không xác định được đâu là diện tích đất ở và đâu là diện tích đất vườn. Do đó việc quyết định thanh toán chênh lệch chia di sản thừa kế thiếu cơ sở vững chắc.

Thứ hai, về xác định án phí:

Trong vụ án này, một trong số các đối tượng được chia di sản thừa kế là bà Trần Thị L2 nên đối tượng phải chịu án phí dân sự có giá ngạch là bà L2. Tuy nhiên, do bà L2 trên 60 tuổi (sinh năm 1954) nên theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án thì bà L2 thuộc trường hợp được miễn án phí. Tòa án cấp sơ thẩm không hướng dẫn bà L2 làm đơn xin miễn án phí mà buộc anh Trần Văn N (là người được thụ hưởng phần di sản thừa kế bà L2 được chia) phải chịu 53.082.840 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là không đúng.

Do những vi phạm nêu trên, theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã chấp nhận kháng cáo của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Bị đơn, hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh HD để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Để tăng cường kỹ năng nhận diện, phát hiện và xử lý vi phạm nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự về tranh chấp quyền sử dụng đất, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thông báo dạng vi phạm đã phát hiện để các đơn vị trong toàn Ngành cùng tham khảo và rút kinh nghiệm./.