Thông báo rút kinh nghiệm số 33/TB-VKSTC ngày 23/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội về vụ án “Tranh chấp yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc”
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 33/TB-VKSTC NGÀY 23/02/2023 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI VỀ VỤ ÁN “TRANH CHẤP YÊU CẦU CHIA DI SẢN THỪA KẾ THEO DI CHÚC”
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
1. Toà án cấp sơ thẩm, Toà án cấp phúc thẩm không chia di sản thừa kế đúng theo di chúc là vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 684 Bộ luật Dân sự năm 2005
Nhà, đất tranh chấp có diện tích đất 48,21m, diện tích xây dựng 52,2m, tại số 03, khu phố 2, phường 5, thị xã C, tỉnh T có nguồn gốc là của vợ chồng cụ Ngô Văn H và cụ Đặng Thị A. Năm 1989, cụ A chết, các đồng thừa kế của cụ A đều thống nhất giao cho cụ H được quyền sở hữu, sử dụng nhà, đất trên. Ngày 03/5/2000, cụ H được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất đối với nhà, đất trên. Do vậy, nhà, đất này không còn là tài sản chung của vợ chồng cụ H, cụ A nữa mà chuyển thành tài sản riêng của cụ H.
Cụ H chết năm 2015. Khi còn sống, cụ H có lập di chúc ngày 06/12/2000 với nội dung cụ H để lại nhà, đất trên cho ông Ngô Trọng Th (con trai của cụ H, cụ A) và di chúc ngày 18/6/2009 với nội dung cụ H để lại nhà, đất trên cho ông Ngô Văn B, bà Ngô Thị Thanh Đ, bà Ngô Thị Minh Tr (03 người con khác của cụ H, cụ A). Cả 02 di chúc này đều được Phòng Công chứng số 03, tỉnh T chứng nhận theo quy định.
Xét thấy, ngày 06/12/2000, cụ H lập di chúc để lại nhà, đất nêu trên cho ông Th, nhưng đến ngày 18/6/2009, cụ H thay đổi ý chí và lập bản di chúc mới để lại nhà, đất trên cho ông B, bà Đ, bà Tr. Tại bản di chúc ngày 18/6/2009, cụ H ghi rõ “Các bản di chúc tôi lập trước đây đều huỷ bỏ”. Do vậy, di chúc ngày 06/12/2000 của cụ H không còn hiệu lực. Theo nội dung di chúc ngày 18/6/2009, cụ H để lại toàn bộ nhà, đất trên cho ông B, bà Tr, bà Đ sở hữu, sử dụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, các nguyên đơn ông B, bà Tr, bà Đ đều đề nghị được nhận di sản bằng hiện vật và trả công sức trông nom, quản lý di sản cho ông Th bằng giá trị của % kỷ phần nhà, đất mà cụ H để lại. Toà án cấp sơ thẩm, Toà án cấp phúc thẩm công nhận Di chúc ngày 18/6/2009 của cụ H là hợp pháp nhưng lại không chia di sản theo di chúc, mà giao nhà, đất trên cho vợ chồng ông Th và buộc vợ chồng ông Th trả giá trị của % di sản là nhà, đất của cụ H để lại cho ông B, bà Đ, bà Tr là không đúng quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 684 Bộ luật Dân sự năm 2005:
“1. Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc ... 2. Trong trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó...”.
Cho nên, Toà án phải công nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà cho ông B, bà Đ, bà Tr theo đúng Di chúc ngày 18/6/2009 của cụ H để lại; đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của các nguyên đơn đồng ý thanh toán công sức trông nom, quản lý di sản bằng '% giá trị nhà, đất trên cho ông Th mới đúng.
2. Toà án cấp sơ thẩm, Toà án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông Ngô Văn B, bà Ngô Thị Minh Tr và bà Ngô Thị Thanh Đ về việc huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà số CS09403 ngày 30/12/2016 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho ông Ngô Trọng Th là không đúng.
Như đã phân tích ở trên, ngày 18/6/2009 cụ H thay đổi ý chí và lập di chúc mới nên Di chúc ngày 06/12/2000 của cụ H không còn hiệu lực nhưng Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T căn cứ Di chúc ngày 06/12/2000 của cụ H để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Th là không đúng quy định tại khoản 3 Điều 662 Bộ luật Dân sự năm 2005 “Trong trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc
mới thì di chúc trước bị huỷ bỏ".
Do dó, cần thiết phải huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà số CS09403 ngày 30/12/2016 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp cho ông Ngô Trọng Th.
Kiểm sát viên kiểm sát việc giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm và phúc thẩm đã không phát hiện ra các vi phạm nêu trên của Tòa án để kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Qua đó cho thấy, việc nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ của cả hai cấp kiểm sát trong vụ án này còn chưa đạt yêu cầu.
Trên đây là những vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm trong việc giải quyết vụ án “Tranh chấp yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc”. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ 9) thông báo đến các Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới để tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát việc giải quyết các vụ, việc tương tự./.