NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 14/2024/DS-GĐT NGÀY 23/4/2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO)

Quyết định giám đốc thẩm số 14/2024/DS-GĐT ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân tối cao hủy Quyết định giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông Lê Văn P, bà Ngô Thị B với bị đơn là bà Nguyễn Thiên L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác.

Nội dung hủy án:

“[2] Quá trình giải quyết, ông P có nhiều lời khai mâu thuẫn về việc ký kết “Giấy sang nhượng đất thổ cư” ngày 11/12/2001, cụ thể: Tại Biên bản hòa giải ngày 04/6/2020, ông P cho rằng ông N giả mạo giấy tờ và chữ ký để chuyển nhượng đất cho bà L; tại Bản tự khai ngày 10/8/2020, ông P cho biết lý do ký Giấy chuyển nhượng là nhằm thế chấp, bảo đảm cho khoản vay nợ của ông N với bà L nhưng ông P không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc ông P ký Giấy chuyển nhượng nhằm thế chấp, bảo đảm cho khoản vay của ông N với bà L, cũng như không có chứng cứ thể hiện việc ông P bị ép buộc ký giấy chuyển nhượng. Ông P đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng là 400.000.000 đồng, hai bên đã ký tên và bàn giao các giấy tờ kèm theo. Đồng thời, tại Kết luận giám định số 5992/C09B ngày 21/12/2020, Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Chữ viết, chữ ký tên “Lê Văn P” dưới mục “Bên bán” trên tài liệu cần giám định “Giấy sang nhượng đất thổ cư” đề ngày 11/12/2001 so với chữ ký, chữ viết mang tên Lê Văn P trên tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký, viết ra. Mặc dù “Giấy sang nhượng đất thổ cư” ngày 11/12/2001 thể hiện chỉ có chữ ký của ông P; tuy nhiên, bà B là vợ ông P xác định có biết việc bà L xây dựng nhà trên đất vào năm 2003, bà L được cấp đổi số nhà vào năm 2006, cũng như nhận tiền đền bù đất nhưng ông P và bà B không có ý kiến phản đối. Như vậy, có đủ cơ sở xác định vào ngày 11/12/2001, ông P đã chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích 116,4m2 đất cho bà L.

[3] Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên, bà L đã nhận đất để quản lý, sử dụng và xây dựng nhà trọ, do không xin phép xây dựng nên bị Ủy ban nhân dân quận Thủ Đ xử phạt vi phạm hành chính về việc xây nhà không phép. Tuy nhiên, ngày 22/02/2006, Ủy ban nhân dân quận Thủ Đ đã có Quyết định số 1141/QĐ-UBND về việc cấp đổi số nhà cho bà L; đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông N cũng thừa nhận khi Nhà nước bồi thường giải tỏa đường thì bà L là người nhận tiền bồi thường. Đồng thời, tại Công văn số 5050/UBNDTNMT ngày 19/10/2020, Ủy ban nhân dân quận Thủ Đ xác định đất tranh chấp do ông Võ Văn L2 đăng ký theo Chỉ thị 02, đến năm 1999, ông P đứng tên đăng ký kê khai nhà đất; sau đó, đến năm 2001, ông P chuyển nhượng quyền sử dụng đất tranh chấp cho bà L theo Giấy sang nhượng ngày 11/12/2001 và xác định nhà đất tranh chấp nêu trên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với điều kiện chủ sử dụng đất chứng minh nguồn gốc, quá trình sử dụng, được Ủy ban nhân dân phường Hiệp Bình P xác nhận nguồn gốc, quá trình sử dụng. Ông P cho rằng năm 2008, bà L trả lại cho ông nhà đã xuống cấp nên năm 2009 - 2010, ông P xây dựng lại toàn bộ nhà cấp 4 như hiện nay nhưng không có chứng cứ chứng minh. Mặt khác, tại Công văn số 351/UBND ngày 08/4/2021, Ủy ban nhân dân phường Hiệp Bình P cũng xác định không nhận được đơn xin phép sửa chữa, xây dựng lại nhà của ông P. Do đó, có căn cứ khẳng định năm 2001, ông P đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất tranh chấp nêu trên cho bà L và bà L đã quản lý, sử dụng, xây dựng nhà kiên cố trên đất, ngôi nhà trên đất thuộc quyền sử dụng của bà L.”