NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 25/2024/DS-GĐT NGÀY 09/5/2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG)

Quyết định giám đốc thẩm số 25/2024/DS-GĐT ngày 09/5/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố K, tỉnh Quảng Nam đối với vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn Tr, bà Trần Thị H với bị đơn bà Phan Thị N, ông Văn Chính H và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Nội dung hủy án:

“[4]. Như vậy, qua các tài liệu chứng cứ đều thể hiện nguồn gốc đất của hộ ông Nguyễn Văn Tr và bà Trần Thị H. Bà Phan Thị N và ông Văn Chính H cho rằng diện tích đất tranh chấp 169m2 là đất của gia đình bà N có nguồn gốc từ ông bà để  lại nhưng không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh và bà N cũng không sử dụng, đăng ký, kê khai diện tích đất trên. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm công nhận diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của hộ ông Tr, bà H; buộc bị đơn ông H và bà N chấm dứt hành vi cản trở ông Tr, bà H thực hiện quyền của người sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp 169m2 nói trên. Ông Nguyễn Văn Tr, bà Trần Thị H có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ thửa đất theo quy định của pháp luật là có cơ sở. Bản án dân sự phúc thẩm buộc bà N và ông H chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất của ông Tr, bà H đối với diện tích đất tranh chấp nhưng không công nhận quyền sử dụng đất của ông Tr và bà H đối với 169m2 đất là ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Tr, bà H. Về tài sản gắn liền với diện tích đất tranh chấp 169m2: Đối với tường rào và các trụ xây gạch do ông Nguyễn Văn Tr xây dựng và 01 hầm rút do Uỷ ban nhân dân xã T quản lý; nhưng Uỷ ban nhân dân xã T xác định hầm rút cũ bỏ Hng không còn giá trị sử dụng nên UBND xã không có ý kiến gì. Đối với 01 cây dương liễu đường kính trên 30cm (có 02 nhánh), các bên có tranh chấp về quyền sở H thì thấy: Cây dương liễu này nằm trên phần đất được hộ ông Nguyễn Văn Tr sử dụng từ năm 1984 theo diện trài dân. Ông Tr, bà H và người đại diện theo ủy quyền khẳng định cây dương liễu trên do gia đình ông Tr trồng; về phía ông Văn Chính H và bà Phan Thị N không đưa ra được chứng cứ để chứng minh cây dương liễu trên do bà N, ông H trồng. Tại Biên bản định giá tài sản ngày 17/6/2020 thể hiện cây dương liễu có giá 36.000 đồng. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xác định quyền sở H đối với cây dương liễu này thuộc về ông Tr, bà H là có cơ sở.

[5]. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 84/2023/DS-PT ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 119/2023/DS-ST ngày 19/6/2023 của Toà án nhân dân thành phố K, tỉnh Quảng Nam.”