Căn cứ bồi thường, hình thức bồi thường và chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn của hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm thiệt hại được thực hiện như thế nào?
Căn cứ bồi thường, hình thức bồi thường và chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn của hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm thiệt hại được thực hiện như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi có tham gia bảo hiểm cho một số tài sản và bảo hiểm thiệt hại, tuy nhiên khi tìm hiểu hợp đồng thì thấy có nhiều nội dung liên quan đến căn cứ xác định mức bồi thường, hình thức bồi thường và việc chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn sau khi doanh nghiệp bảo hiểm chi trả. Các quy định này khá chuyên môn nên tôi chưa hiểu rõ cách áp dụng trong thực tế cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên. Tôi lo ngại nếu không nắm chắc thì khi xảy ra tổn thất sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của mình. Vậy căn cứ bồi thường, hình thức bồi thường và chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn của hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm thiệt hại được thực hiện như thế nào? Mong luật sư giải đáp giúp tôi, xin cảm ơn.
MỤC LỤC
Trả lời:
1. Căn cứ bồi thường của hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm thiệt hại được thực hiện như thế nào?
Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm thiệt hại, vấn đề quan trọng nhất khi xảy ra rủi ro là xác định số tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm phải chi trả. Việc bồi thường phải dựa trên căn cứ rõ ràng, khách quan và phù hợp với thiệt hại thực tế để bảo đảm quyền lợi của người được bảo hiểm cũng như tránh phát sinh tranh chấp. Vì vậy, pháp luật đã nêu cụ thể về căn cứ bồi thường trong lĩnh vực này tại Điều 51 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 như sau:
“Điều 51. Căn cứ bồi thường
1. Số tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải trả cho người được bảo hiểm được xác định trên cơ sở giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm, nơi xảy ra tổn thất và mức độ thiệt hại thực tế, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm. Chi phí để xác định giá thị trường và mức độ thiệt hại do doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chi trả.
2. Số tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài trả cho người được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.
3. Ngoài số tiền bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài còn phải trả cho người được bảo hiểm những chi phí cần thiết, hợp lý theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm để đề phòng, hạn chế tổn thất và những chi phí phát sinh mà bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm phải chịu để thực hiện theo hướng dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.”
Theo đó, số tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài phải trả cho người được bảo hiểm được xác định trên cơ sở giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm, nơi xảy ra tổn thất và mức độ thiệt hại thực tế, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm. Chi phí để xác định giá thị trường và mức độ thiệt hại do doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài chi trả. Điều này giúp giảm gánh nặng tài chính cho người được bảo hiểm khi họ đang chịu thiệt hại, đồng thời bảo đảm việc thẩm định được thực hiện khách quan và chuyên nghiệp.
Bên cạnh đó, số tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài trả cho người được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm. Đây là nguyên tắc quan trọng nhằm bảo đảm bảo hiểm chỉ bù đắp tổn thất chứ không tạo ra lợi nhuận cho người tham gia bảo hiểm.
Ngoài số tiền bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài còn phải trả cho người được bảo hiểm những chi phí cần thiết, hợp lý theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm để đề phòng, hạn chế tổn thất và những chi phí phát sinh mà bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm phải chịu để thực hiện theo hướng dẫn của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.
Như vậy, căn cứ bồi thường trong hợp đồng bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm thiệt hại được xác định dựa trên giá trị thị trường, mức độ thiệt hại thực tế và giới hạn số tiền bảo hiểm. Ngoài ra, người được bảo hiểm còn có thể được thanh toán những chi phí hợp lý để ngăn ngừa, hạn chế tổn thất. Những ghi nhận này giúp bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên và hạn chế tranh chấp phát sinh. Đồng thời, chúng bảo đảm việc bồi thường được thực hiện khách quan, đúng pháp luật. Có thể thấy rằng, đây là cơ sở quan trọng để hoạt động bảo hiểm vận hành hiệu quả và ổn định.
2. Hình thức bồi thường của hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm thiệt hại được thực hiện ra sao?
Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm thiệt hại, khi xảy ra tổn thất thì việc bồi thường là nội dung quan trọng nhằm khôi phục quyền lợi cho người được bảo hiểm. Tuy nhiên, bồi thường không chỉ được thực hiện bằng tiền mà còn có thể áp dụng nhiều hình thức khác tùy theo thỏa thuận của các bên và tính chất thiệt hại. Cụ thể, tại Điều 52 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 nêu rõ như sau:
“Điều 52. Hình thức bồi thường
1. Bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có thể thoả thuận một trong các hình thức bồi thường sau đây:
a) Sửa chữa tài sản bị thiệt hại;
b) Thay thế tài sản bị thiệt hại bằng tài sản khác;
c) Trả tiền bồi thường.
2. Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và bên mua bảo hiểm không thoả thuận được về hình thức bồi thường thì việc bồi thường được thực hiện bằng tiền.
3. Trường hợp bồi thường quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền thu hồi tài sản bị thiệt hại sau khi đã thay thế hoặc bồi thường toàn bộ theo giá thị trường của tài sản.”
Theo đó, pháp luật cho phép bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có thể thoả thuận một trong các hình thức bồi thường sau đây:
- Sửa chữa tài sản bị thiệt hại;
- Thay thế tài sản bị thiệt hại bằng tài sản khác;
- Trả tiền bồi thường.
Điều này thể hiện nguyên tắc tự do thỏa thuận trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm, giúp các bên chủ động lựa chọn phương án thuận lợi nhất. Nếu doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và bên mua bảo hiểm không thoả thuận được về hình thức bồi thường thì việc bồi thường được thực hiện bằng tiền. Đây là phương án rõ ràng, dễ thực hiện và hạn chế kéo dài tranh chấp.
Ngoài ra, trong trường hợp bồi thường bằng hình thức thay thế tài sản bị thiệt hại bằng tài sản khác hay trả tiền bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền thu hồi tài sản bị thiệt hại sau khi đã thay thế hoặc bồi thường toàn bộ theo giá thị trường của tài sản.
Qua đó ta thấy được rằng, pháp luật ghi nhận nhiều hình thức bồi thường trong hợp đồng bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm thiệt hại gồm sửa chữa, thay thế tài sản hoặc trả tiền. Những hình thức này tạo sự linh hoạt và phù hợp với từng trường hợp tổn thất cụ thể. Đồng thời, nếu không thỏa thuận được thì việc bồi thường bằng tiền sẽ được áp dụng để bảo đảm giải quyết nhanh chóng. Điều khoản về quyền thu hồi tài sản bị thiệt hại cũng bảo đảm công bằng cho doanh nghiệp bảo hiểm. Từ đó, tạo cơ sở quan trọng giúp việc bồi thường diễn ra hiệu quả và đúng pháp luật.
3. Chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn của hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm thiệt hại được quy định như thế nào?
Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm thiệt hại, khi xảy ra tổn thất do lỗi của người thứ ba gây ra thì ngoài trách nhiệm bồi thường của doanh nghiệp bảo hiểm còn phát sinh quyền yêu cầu người gây thiệt hại hoàn trả khoản tiền đã bồi thường. Đây là cơ chế quan trọng nhằm bảo đảm công bằng, tránh để người có lỗi được miễn trách nhiệm và giúp doanh nghiệp bảo hiểm thu hồi khoản tiền đã chi trả hợp lý. Nội dung này được ghi nhận tại Điều 54 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 về chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn như sau:
Điều 54. Chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn
1. Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, trường hợp người thứ ba có trách nhiệm bồi thường do hành vi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm thì thực hiện như sau:
a) Sau khi doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài trả tiền bồi thường, người được bảo hiểm có trách nhiệm chuyển cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền mà doanh nghiệp đã bồi thường;
b) Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền khấu trừ số tiền bồi thường tùy theo mức độ lỗi của người được bảo hiểm nếu người được bảo hiểm từ chối chuyển quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn.
2. Khi doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thực hiện quyền yêu cầu bồi hoàn đối với người thứ ba, người được bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài các tài liệu cần thiết và thông tin liên quan theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.
3. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không được yêu cầu cha, mẹ, vợ, chồng, con của người được bảo hiểm bồi hoàn khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài đã trả cho người được bảo hiểm, trừ trường hợp những người này cố ý gây ra tổn thất.”
Theo đó, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, trường hợp người thứ ba có trách nhiệm bồi thường do hành vi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm thì thực hiện như sau:
Thứ nhất, sau khi doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài trả tiền bồi thường, người được bảo hiểm có trách nhiệm chuyển cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền mà doanh nghiệp đã bồi thường;
Thứ hai, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có quyền khấu trừ số tiền bồi thường tùy theo mức độ lỗi của người được bảo hiểm nếu người được bảo hiểm từ chối chuyển quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn.
Bên cạnh đó, khi doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài thực hiện quyền yêu cầu bồi hoàn đối với người thứ ba, người được bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài các tài liệu cần thiết và thông tin liên quan theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Ví dụ như biên bản tai nạn, chứng cứ thiệt hại, thông tin người gây thiệt hại hoặc giấy tờ liên quan khác. Đây là cơ sở giúp doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện quyền đòi bồi hoàn hiệu quả.
Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài không được yêu cầu cha, mẹ, vợ, chồng, con của người được bảo hiểm bồi hoàn khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài đã trả cho người được bảo hiểm, trừ trường hợp những người này cố ý gây ra tổn thất.
Nhìn chung, pháp luật đã làm rõ việc chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn trong hợp đồng bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm thiệt hại sau khi doanh nghiệp bảo hiểm đã chi trả bồi thường. Điều khoản này giúp doanh nghiệp bảo hiểm có cơ sở thu hồi khoản tiền từ người thứ ba có lỗi gây ra thiệt hại. Đồng thời, người được bảo hiểm cũng có nghĩa vụ hợp tác cung cấp thông tin và tài liệu cần thiết. Bên cạnh đó, pháp luật vẫn bảo đảm yếu tố nhân văn khi hạn chế yêu cầu bồi hoàn đối với người thân trong gia đình, trừ trường hợp cố ý gây thiệt hại, tạo nên quy định vừa chặt chẽ vừa hợp lý trong hoạt động bảo hiểm.
Trân trọng./.