Nguồn án lệ về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản (Quyết định giám đốc thẩm số 07/2023/HNGĐ-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 07/2023/HNGĐ-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 07/2023/HNGĐ-GĐT ngày 11/4/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh hủy một phần Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang đối với phần chia tài sản chung.
Nội dung hủy án:
“[2] Trong 05 thửa đất là tài sản chung của vợ chồng thì chị H. đã làm thủ tục tặng cho con là Ph1. theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 02/6/2017 đối với các thửa đất số 3420 (nay là thửa 58), thửa đất số 347, thửa đất số 523. Anh U. xác định đây là tài sản chung và yêu cầu chia 03 thửa đất này, Tòa án phúc thẩm không chấp nhận nhưng không tuyên bác yêu cầu khởi kiện của anh U. là thiếu sót.
[3] Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 02/6/2017 giữa chị H. với con là Ph1. không có chữ ký của anh U.. Mặc dù, chị H. trình bày khi tặng cho anh U. có biết và đồng ý nhưng không được anh U thừa nhận. Bản án phúc thẩm căn cứ vào "Giấy xác nhận" đề ngày 22/12/2022 của ông H., nguyên là cán bộ tư pháp xã Ph, huyện C, tỉnh Tiền Giang, phụ trách tổ một cửa của Ủy ban nhân dân xã Ph có nội dung: "Ngày 08/02/2017, ông H. có tiếp nhận 03 hồ sơ của anh U. và chị H. nộp, yêu cầu lập và chứng thực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho con trai là Ph1.. Sau khi kiểm tra có một thửa đất ở ấp A, xã Đ, huyện C không thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân xã Ph, nên ông H. trả hồ sơ và hướng dẫn vợ chồng anh U., chị H. đến cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã Đ, còn lại hai thửa đất tọa lạc ấp 4, xã Ph thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cá nhân bà H., vì vậy ông H. trực tiếp giải thích cho anh U., chị H. biết theo quy định chỉ cần một mình chị H. ký vào hợp đồng, anh U. không phải ký tên vào Hợp đồng tặng cho. Anh U. và chị H. đều đồng ý thì ông H. mới lập hợp đồng và trình Ủy ban chứng thực" là chưa đủ cơ sở vững chắc; bởi lẽ:
- Nguồn gốc 03 thửa đất gồm thửa đất số 58 do chị H. nhận chuyển nhượng của hộ bà Gi. vào ngày 03/6/2013, thửa đất số 347 do chị H. nhận chuyển nhượng của ông M. vào ngày 18/11/2014, thửa đất số 523 do chị H. nhận chuyển nhượng của bà L. vào ngày 14/4/2014. Các thửa đất nêu trên đều hình thành trong thời kỳ hôn nhân, tại Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 “Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng", nên đây là tài sản chung của anh U., chị H..
- Theo quy định tại Điều 28 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì “Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thoả thuận". Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, tại khoản 1 Điều 4 quy định: “1. Trong trường hợp việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng hoặc tài sản chung là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng tài sản đó đã đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh là nguồn sống duy nhất của gia đình mà pháp luật quy định giao dịch đỏ phải tuân theo hình thức nhất định, thì sự thoả thuận của vợ chồng cũng phải tuân theo hình thức đó (lập thành văn bản có chữ ký của vợ, chồng hoặc phải có công chứng, chứng thực...).
[4] Việc chị H. tự định đoạt tài sản chung của vợ chồng, làm Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng 03 thửa đất cho con là Ph1. nhưng Hợp đồng này không có sự tham gia của anh U. là trái quy định của pháp luật như đã viện dẫn. Bản án phúc thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của cán bộ tư pháp xã và lời khai của chị H. không được anh U. thừa nhận để xác định anh U đồng ý tặng cho tài sản cho con Ph1. là không bảo đảm căn cứ pháp luật, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh U.. Do đó, Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ chấp nhận. Cần hủy một phần Bản án phúc thẩm (phần chia tài sản chung) để giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Do các tài sản này anh Ph1. đã chuyển nhượng cho người khác và người này thế chấp tại Ngân hàng, nên khi Tòa án giải quyết lại cần xem xét đến quyền lợi ích, hợp pháp của người thứ ba ngay tình theo quy định của pháp luật.”