Nguồn án lệ về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai (Quyết định tái thẩm số 01/2020/HC-TT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI (QUYẾT ĐỊNH TÁI THẨM SỐ 01/2020/HC-TT)
Quyết định tái thẩm số 01/2020/HC-TT ngày 19/5/2020 của Tòa án nhân dân tối cao về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
Nội dung hủy án:
“[2] Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Quyết định số 04/QĐ-UB ngày 01/4/1983 của Ủy ban nhân dân huyện QP về việc cho phép mượn ruộng đất không canh tác vào kiến thiết cơ bản để cho rằng năm 1983 gia đình bà Th bị thu hồi đất đã được giải quyết đền bù, hỗ trợ đối với diện tích đất bị thu hồi. Tuy nhiên, tại Quyết định số 04/QĐ/UB nêu trên chỉ có nội dung: Ủy ban nhân dân huyện QP cho phép ông Vũ Đình T (chồng bà Th) được mượn đất của Hợp tác xã thị trấn QC, diện tích 150m2; người mượn đất phải bảo đảm xây dựng đúng quy hoạch, không được đào bới làm vỡ mặt bằng… mà không có nội dung liên quan tới việc giải quyết đền bù, hỗ trợ do bị thu hồi đất. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của bà Th là chưa đủ căn cứ.
…
[5] Gia đình bà Th đã được giao đất và sử dụng ổn định từ đó đến nay, đã được hỗ trợ một số tài sản và đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án, phía Người bị kiện không cung cấp được cho Tòa án Thông báo số 47/TB-UB ngày 10/5/1988 của Ủy ban nhân dân huyện QP, tỉnh Thái Bình, Người khởi kiện trình bày không nhận được Thông báo này nên Tòa án các cấp không có căn cứ để giải quyết. Nay phía Người bị kiện mới cung cấp được Thông báo số 47/TB-UB nêu trên. Đây là tình tiết mới quan trọng của vụ án, được cung cấp cho Tòa án khi xem xét đơn đề nghị tái thẩm.
[6] Mặt khác, theo Quyết định số 04/QĐ-UB ngày 01/4/1983 thì Ủy ban nhân dân huyện QP cho gia đình bà Th mượn 150m2 đất tại thị trấn QC. Nhưng theo nội dung Thông báo số 47/TB-UB ngày 10/5/1988 (có trích dẫn Quyết định số 04/QĐ-UB ngày 01/4/1983) thì Ủy ban nhân dân huyện QP cho gia đình bà Th mượn lô đất có diện tích 50m2 tại thị trấn QC. Năm 1987, khi đo đạc lại, diện tích đất gia đình bà Th sử dụng là 94,95m2 (tăng so với quyết định của Ủy ban nhân dân huyện cấp là 44,95m2). Bà Th chứng kiến việc đo đạc, công nhận và ký tên vào biên bản.
[7] Nội dung của Thông báo số 47/TB-UB ngày 10/5/1988 phù hợp với số liệu thực tế thể hiện trong hồ sơ địa chính lưu tại Ủy ban nhân dân thị trấn QC qua các thời kỳ, cụ thể: Bản đồ địa chính năm 1985 thể hiện thửa đất có diện tích 100m2; Bản đồ đo đạc chỉnh lý năm 1993 thể hiện thửa đất có diện tích 115m2; Bản đồ địa chính đo đạc năm 1998 thể hiện thửa đất có diện tích 125,3m2; Bản đồ địa chính năm 2012 thể hiện thửa đất có diện tích 140,2m2. Theo Thông báo số 47/TB-UB thì bà Th cho rằng bà mua của ông Kh, bà S 80m2 đất năm 1980. Ủy ban nhân dân đã thu hồi toàn bộ nhưng chỉ giao cho gia đình bà 50m2. Tuy nhiên, trên thực tế, gia đình bà Th vẫn đang sử dụng 140,2m2 (nhiều hơn diện tích đất bị thu hồi) và đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, Thông báo số 47/TB-UB có những nội dung mâu thuẫn với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và chưa được Tòa án các cấp xem xét.
[8] Thông báo số 47/TB-UB ngày 10/5/1988 là tài liệu mới thu thập được sau khi xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, là tình tiết quan trọng mà đương sự chưa cung cấp được cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của vụ án. Do đó, cần thiết phải giao cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử sơ thẩm lại, làm rõ những mâu thuẫn trong nội dung của Thông báo số 47/TB/UB với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và những nội dung mới của Thông báo số 47/TB-UB để làm căn cứ giải quyết vụ án.”