NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 11/2025/HC-GĐT)

Quyết định giám đốc thẩm số 11/2025/HC-GĐT ngày 20/5/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy Bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Long An về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

Nội dung hủy án:                                              

“[1] Về tố tụng: Theo quy định tại Điều 1; Điều 3 Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV- BTC ngày 04/4/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường; Điều 84; khoản 2 Điều 567 Bộ luật Dân sự thì Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai là đơn vị phụ thuộc Văn phòng đăng ký đất đai, thực hiện một phần chức năng của Văn phòng đăng ký đất đai trong phạm vi được ủy quyền. Văn phòng đăng ký đất đai chịu trách nhiệm trước việc thực hiện nhiệm vụ được giao của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai trong phạm vi được ủy quyền. Mặt khác, theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính thì người bị kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện. Đối chiếu với quy định của pháp luật nêu trên thì Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện HD, tỉnh Long An là đơn vị thực hiện nhiệm vụ theo sự ủy quyền của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Long An. Do đó, trường hợp đương sự khởi kiện Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thì Tòa án phải hướng dẫn đương sự sửa đổi đơn khởi kiện theo Điều 122 Luật Tố tụng hành chính, việc Tòa án nhân dân tỉnh Long An không hướng dẫn những người khởi kiện khởi kiện đối với Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Long An, mà thụ lý vụ án và xác định người bị kiện là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện HD, tỉnh Long An là không đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Ngày 10/5/2021, ông Đàng Văn T7 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 43**14 đối với thửa đất số 61, tờ bản đồ số 7, diện tích 5059m2 tọa lạc tại ấp NA, xã TNA, huyện HD, tỉnh Long An. Sau đó ngày 24/5/2021, ông Đàng Văn T7 và vợ là bà Lưu Thị T8 đã thế chấp diện tích đất nêu trên tại Ngân hàng Thương mại cổ phần LK - Chi nhánh Sài Gòn để bảo đảm cho khoản vay của Công ty cổ phần TF Việt Nam (Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0044/21/HĐTC-BĐS/1500-5901 được Văn phòng công chứng VN công chứng và Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Long An - Chi nhánh huyện HĐ chứng nhận việc thế chấp). Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân tỉnh Long An không xác minh, thu thập chứng cứ để xác định tình trạng pháp lý của thửa đất, cũng như không đưa Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An (hiện nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Long An), Ngân hàng Thương mại cổ phần LK, ông Đàng Văn T7 và bà Lưu Thị T8 vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T7, bà T8 và Ngân hàng Thương mại cổ phần LK.

[2.2] Mặt khác, phần đất có diện tích 5059m2 thuộc thửa đất số 61, tờ bản đồ số 7, tọa lạc tại ấp NA, xã TNA, huyện HD, tỉnh Long An được UBND huyện HD cấp cho ông Bùi Văn Đ4, bà Nguyễn Kim T4 ngày 01/12/2016. Ngày 13/6/2017, ông Đ4 và bà T4 chuyển nhượng phần đất nêu trên cho ông Đinh Văn H4, hợp đồng được công chứng tại Phòng Công chứng số * tỉnh Long An và ông H4 đã được cập nhật sang tên trên các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 155*** và số CE 15***4. Ngày 23/4/2021, ông H4 chuyển nhượng phần đất trên cho ông Đàng Văn T7 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được Văn phòng Công chứng Nguyễn Lê Hiền công chứng cùng ngày; đến ngày 10/5/2021, ông Đàng Văn T7 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 43**14 đối với phần đất nêu trên.

[2.3] Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013, khoản 3 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, khi cấp Giấy chứng nhận số DC 43**14 cho ông T7 thì các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 155*** và số CE 15***4, cũng như phần cập nhật sang tên ông Đinh Văn H4 trên các Giấy chứng nhận này không còn giá trị pháp lý. Do đó, việc Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án ngày 24/5/2023 và giải quyết vụ án ngày 02/02/2024 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của những người khởi kiện khi các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 155*** và số CE 15***4 không còn giá trị pháp lý (đối tượng khởi kiện không còn) là không đúng quy định của pháp luật.”