Điều kiện chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế được quy định như thế nào?
Điều kiện chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế được quy định như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Công ty chúng tôi đang có nhu cầu chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế để huy động vốn. Trước khi triển khai, chúng tôi muốn biết doanh nghiệp cần đáp ứng những điều kiện gì để được chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế theo quy định pháp luật hiện hành? Rất mong được Luật sư giải đáp. Xin cảm ơn!
MỤC LỤC
Trả lời:
1. Điều kiện chào bán trái phiếu không chuyển đổi, không kèm chứng quyền ra thị trường quốc tế được quy định như thế nào?
Để thực hiện đợt chào bán trái phiếu không chuyển đổi, không kèm chứng quyền ra thị trường quốc tế, doanh nghiệp phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện được ghi nhận tại Điều 23 Nghị định số 200/2026/NĐ-CP ngày 05/6/2026 của Chính phủ về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế (sau đây gọi tắt là "Nghị định số 200/2026/NĐ-CP") như sau:
"Điều 23. Điều kiện chào bán trái phiếu không chuyển đổi, không kèm chứng quyền ra thị trường quốc tế
1. Doanh nghiệp phát hành là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam.
2. Có phương án phát hành trái phiếu được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chấp thuận theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Nghị định này.
3. Được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, chấp thuận phương án phát hành đối với doanh nghiệp phát hành thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
4. Đáp ứng tỷ lệ an toàn tài chính, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
5. Tuân thủ quy định về quản lý vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh và pháp luật về quản lý ngoại hối.
6. Đáp ứng các điều kiện chào bán theo quy định tại thị trường phát hành."
Dẫn chiếu đến khoản 2 Điều 10 Nghị định số 200/2026/NĐ-CP quy định như sau:
"Điều 10. Phương án phát hành trái phiếu và thẩm quyền phê duyệt, chấp thuận phương án phát hành
…
2. Thẩm quyền phê duyệt và chấp thuận phương án phát hành trái phiếu:
a) Đối với công ty cổ phần:
Phương án chào bán trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ và chào bán trái phiếu kèm chứng quyền riêng lẻ phải được Đại hội đồng cổ đông phê duyệt. Việc biểu quyết thông qua Nghị quyết phê duyệt phương án phát hành thực hiện theo quy định tại Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14.
Phương án chào bán trái phiếu không chuyển đổi không kèm chứng quyền được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo Điều lệ của công ty. Trường hợp Điều lệ của công ty không quy định khác, Hội đồng quản trị có quyền phê duyệt phương án phát hành trái phiếu nhưng phải báo cáo Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp gần nhất; báo cáo phải kèm theo tài liệu và hồ sơ chào bán trái phiếu;
b) Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án phát hành trái phiếu là Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty hoặc chủ sở hữu công ty theo Điều lệ của công ty;
c) Đối với doanh nghiệp nhà nước, ngoài thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này, phải tuân thủ quy định về thẩm quyền quyết định huy động vốn theo quy định của pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và pháp luật doanh nghiệp;
d) Đối với doanh nghiệp thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện, ngoài thẩm quyền phê duyệt phương án phát hành trái phiếu theo quy định tại điểm a, điểm b và điểm c khoản này, thẩm quyền chấp thuận phương án phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật chuyên ngành (nếu có).
…"
Theo đó, điều kiện chào bán trái phiếu không chuyển đổi, không kèm chứng quyền ra thị trường quốc tế bao gồm:
- Doanh nghiệp phát hành là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam;
- Có phương án phát hành trái phiếu được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chấp thuận. Tùy vào loại hình doanh nghiệp mà cấp có thẩm quyền phê duyệt sẽ được quy định cụ thể tại điều luật về phương án phát hành trái phiếu và thẩm quyền phê duyệt, chấp thuận phương án phát hành;
- Đối với doanh nghiệp phát hành thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành thì phải được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, chấp thuận phương án phát hành;
- Đáp ứng tỷ lệ an toàn tài chính, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành;
- Tuân thủ quy định về quản lý vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh và pháp luật về quản lý ngoại hối;
- Đáp ứng các điều kiện chào bán theo quy định tại thị trường phát hành.
Như vậy, điều kiện chào bán trái phiếu không chuyển đổi, không kèm chứng quyền ra thị trường quốc tế được xây dựng theo hướng yêu cầu doanh nghiệp phải đảm bảo đồng thời cả điều kiện theo pháp luật Việt Nam và điều kiện liên quan đến thị trường phát hành. Bên cạnh việc có tư cách pháp lý phù hợp, phương án phát hành trái phiếu được cấp có thẩm quyền phê duyệt và đáp ứng các yêu cầu về an toàn tài chính, doanh nghiệp còn phải tuân thủ các quy định về quản lý vay, trả nợ nước ngoài, quản lý ngoại hối và các điều kiện chào bán tại thị trường nước ngoài. Qua đó, pháp luật góp phần đảm bảo hoạt động chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế được thực hiện trong khuôn khổ pháp lý rõ ràng, hạn chế các rủi ro phát sinh đối với doanh nghiệp phát hành trái phiếu và nhà đầu tư.
2. Điều kiện chào bán trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền ra thị trường quốc tế được quy định như thế nào?
Đối với việc chào bán trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền ra thị trường quốc tế, doanh nghiệp phát hành phải tuân thủ các điều kiện được quy định tại Điều 25 Nghị định số 200/2026/NĐ-CP như sau:
"Điều 25. Điều kiện chào bán trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền ra thị trường quốc tế
1. Doanh nghiệp phát hành là công ty cổ phần đáp ứng các điều kiện chào bán quy định tại khoản 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 23 Nghị định này.
2. Việc chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu, thực hiện quyền kèm theo chứng quyền phải đáp ứng quy định về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật.
3. Đợt chào bán trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền của công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán phải cách ít nhất 06 tháng kể từ ngày kết thúc đợt chào bán, phát hành riêng lẻ gần nhất, bao gồm: chào bán cổ phiếu riêng lẻ; chào bán trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ; chào bán trái phiếu kèm chứng quyền riêng lẻ; chào bán cổ phiếu ưu đãi kèm chứng quyền riêng lẻ; phát hành cổ phiếu để hoán đổi cổ phần cho cổ đông công ty cổ phần chưa đại chúng, hoán đổi phần vốn góp cho thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn; phát hành cổ phiếu để hoán đổi cổ phần cho số cổ đông xác định trong công ty đại chúng; phát hành cổ phiếu để hoán đổi nợ."
Ngoài đáp ứng các điều kiện như đối với việc chào bán trái phiếu không chuyển đổi, không kèm chứng quyền ra thị trường quốc tế thì khi chào bán trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền ra thị trường quốc tế, doanh nghiệp phát hành phải đạt các yêu cầu sau:
- Doanh nghiệp phát hành là công ty cổ phần. Trái phiếu chuyển đổi và trái phiếu kèm chứng quyền có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu hoặc gắn liền với quyền mua cổ phiếu phổ thông. Vì công ty trách nhiệm hữu hạn không có cổ phiếu nên tại điều luật này, pháp luật chỉ cho phép công ty cổ phần được phát hành loại trái phiếu này;
- Việc chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu, thực hiện quyền kèm theo chứng quyền phải đáp ứng quy định về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Khác với trái phiếu không chuyển đổi, không kèm chứng quyền, việc chuyển đổi trái phiếu hoặc thực hiện quyền của chứng quyền sẽ làm gia tăng số lượng cổ phần do nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ, qua đó làm thay đổi cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Do đó, điều khoản này buộc doanh nghiệp phát hành phải tính toán trước phương án chuyển đổi hoặc thực hiện quyền của chứng quyền để không vượt quá tỷ lệ nhà đầu tư nước ngoài sở hữu cổ phần theo quy định của pháp luật;
- Đợt chào bán trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền của công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán phải cách ít nhất 06 tháng kể từ ngày kết thúc đợt chào bán, phát hành riêng lẻ gần nhất, bao gồm: chào bán cổ phiếu riêng lẻ; chào bán trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ; chào bán trái phiếu kèm chứng quyền riêng lẻ; chào bán cổ phiếu ưu đãi kèm chứng quyền riêng lẻ; phát hành cổ phiếu để hoán đổi cổ phần cho cổ đông công ty cổ phần chưa đại chúng, hoán đổi phần vốn góp cho thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn; phát hành cổ phiếu để hoán đổi cổ phần cho số cổ đông xác định trong công ty đại chúng; phát hành cổ phiếu để hoán đổi nợ.
Việc pháp luật xác định cụ thể các hình thức phát hành, chào bán trước đó nhằm tránh trường hợp doanh nghiệp phát hành trái phiếu thực hiện liên tiếp nhiều đợt huy động vốn riêng lẻ trong thời gia ngắn, qua đó bảo đảm tính minh bạch và kiểm soát hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, thời hạn tối thiểu 06 tháng sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp ổn định tình hình tài chính và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ đợt chào bán, phát hành trước khi tiếp tục huy động vốn thông qua đợt chào bán mới.
Như vậy, việc chào bán trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền ra thị trường quốc tế đòi hỏi những yêu cầu chặt chẽ hơn do những loại trái phiếu này gắn với chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu hoặc quyền mua cổ phiếu phổ thông của doanh nghiệp phát hành. Các điều kiện về chủ thể phát hành, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và khoảng cách thời gian giữa các đợt phát hành nhằm bảo đảm việc phát hành và thực hiện các quyền, nghĩa vụ liên quan đến trái phiếu được kiểm soát phù hợp với quy định pháp luật.
Trân trọng./.