Công bố thông tin về kết quả chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế được quy định như thế nào?
Công bố thông tin về kết quả chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế được quy định như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Công ty chúng tôi vừa hoàn tất đợt chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế. Sau khi kết thúc đợt chào bán, doanh nghiệp cần thực hiện những nghĩa vụ gì liên quan đến việc công bố thông tin về kết quả chào bán? Trường hợp đợt chào bán bị hủy thì doanh nghiệp có phải thực hiện công bố thông tin hay không? Rất mong Luật sư giải đáp. Xin cảm ơn!
MỤC LỤC
2. Công bố thông tin về kết quả chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế được quy định như thế nào?
Trả lời:
1. Hành vi vi phạm quy định pháp luật liên quan đến hoạt động chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp bị xử lý như thế nào?
Việc xử lý vi phạm đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến hoạt động chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp được ghi nhận tại Điều 47 Nghị định số 200/2026/NĐ-CP ngày 05/6/2026 của Chính phủ quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế (sau đây gọi tắt là "Nghị định số 200/2026/NĐ-CP") như sau:
1. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Nghị định này và quy định khác của pháp luật có liên quan đến hoạt động chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp thực hiện theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán và quy định của pháp luật có liên quan."
Tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp theo Nghị định số 200/2026/NĐ-CP và pháp luật có liên quan sẽ bị xử lý tùy thuộc vào tính chất và mức độ của hành vi vi phạm. Theo đó, người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chào bán và giao dịch trái phiếu doanh nghiệp được thực hiện theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán cũng như pháp luật có liên quan.
Như vậy, cơ chế xử lý vi phạm là cơ sở để áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong hoạt động chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp. Việc gắn hình thức xử lý với tính chất và mức độ vi phạm cho phép áp dụng biện pháp xử lý tương ứng với từng hành vi, đồng thời đảm bảo các vi phạm trong lĩnh vực này được xem xét và xử lý theo cơ chế pháp lý phù hợp.
2. Công bố thông tin về kết quả chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế được quy định như thế nào?
Sau khi hoàn tất đợt chào bán trái phiếu ra thị trường, doanh nghiệp phát hành thực hiện công bố thông tin về kết quả chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế. Việc công bố thông tin về kết quả chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế được thực hiện theo Điều 36 Nghị định số 200/2026/NĐ-CP như sau:
"Điều 36. Công bố thông tin về kết quả đợt chào bán
1. Chậm nhất 10 ngày kể từ ngày kết thúc đợt chào bán trái phiếu, doanh nghiệp phát hành gửi nội dung công bố thông tin về kết quả đợt chào bán trái phiếu theo Mẫu số 08 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này đến Sở giao dịch chứng khoán.
2. Trường hợp doanh nghiệp hủy đợt chào bán trái phiếu, chậm nhất 10 ngày kể từ ngày kết thúc việc phân phối trái phiếu, doanh nghiệp công bố thông tin và gửi nội dung công bố thông tin đến Sở giao dịch chứng khoán.
3. Sở giao dịch chứng khoán tiếp nhận nội dung công bố thông tin về kết quả đợt chào bán trái phiếu của doanh nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều này để tổng hợp, công bố thông tin trên chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp theo quy định tại Điều 38 Nghị định này và báo cáo về tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế theo quy định tại Điều 39 Nghị định này."
Dẫn chiếu đến Điều 38 và Điều 39 Nghị định số 200/2026/NĐ-CP quy định như sau:
"Điều 38. Chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp tại Sở giao dịch chứng khoán
1. Sở giao dịch chứng khoán có trách nhiệm:
a) Tổng hợp thông tin trên cơ sở nội dung thông tin tiếp nhận từ doanh nghiệp phát hành trái phiếu để thực hiện công bố thông tin trên chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều này và thực hiện chế độ báo cáo của Sở giao dịch chứng khoán theo quy định tại khoản 4 Điều 39 Nghị định này;
b) Xây dựng quy chế tiếp nhận, giám sát công bố thông tin và báo cáo đối với doanh nghiệp phát hành, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, vận hành chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp trình Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam ban hành sau khi có ý kiến của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; tổ chức, quản lý, vận hành chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp.
2. Chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp gồm các nội dung sau:
a) Tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp tại thị trường trong nước, bao gồm: tên doanh nghiệp phát hành, một số chỉ tiêu tài chính (dư nợ vay trái phiếu (bao gồm tất cả các hình thức vay trái phiếu), hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu, hệ số tổng dư nợ vay trái phiếu (bao gồm tất cả các hình thức vay trái phiếu)/vốn chủ sở hữu, hệ số thanh toán lãi vay (lợi nhuận trước thuế và lãi vay/lãi vay)), mã trái phiếu, đối tượng chào bán của từng mã trái phiếu, lãi suất phát hành, ngày phát hành, giá trị, mệnh giá, ngày đáo hạn, báo cáo thanh toán gốc lãi trái phiếu, công bố thông tin bất thường, kết quả xếp hạng tín nhiệm đối với trái phiếu thuộc các trường hợp phải xếp hạng tín nhiệm theo quy định, kết quả xếp hạng tín nhiệm đối với doanh nghiệp phát hành (nếu có);
b) Tình hình phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế, bao gồm: tên doanh nghiệp phát hành, ngày phát hành, giá trị, mệnh giá, ngày đáo hạn, thị trường phát hành, tình hình thanh toán lãi, gốc trái phiếu;
c) Tình hình đăng ký giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước, ngày giao dịch đầu tiên, điều chỉnh số lượng trái phiếu đăng ký giao dịch, hủy bỏ đăng ký giao dịch, thay đổi thông tin doanh nghiệp đăng ký giao dịch, thay đổi thông tin trái phiếu đăng ký giao dịch (nếu có);
d) Tình hình chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu, việc thực hiện quyền của chứng quyền, việc mua lại trái phiếu trước hạn, hoán đổi trái phiếu (nếu có);
đ) Thông tin khác theo thỏa thuận giữa Sở giao dịch chứng khoán và doanh nghiệp phát hành để cung cấp cho đối tượng được tiếp nhận thông tin theo quy chế tiếp nhận, giám sát công bố thông tin, báo cáo và vận hành chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp do Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam ban hành;
e) Thông tin về các trường hợp doanh nghiệp phát hành không thanh toán đầy đủ lãi, gốc trái phiếu, sử dụng vốn trái phiếu không đúng mục đích hoặc không thực hiện được các cam kết với nhà đầu tư và các trường hợp doanh nghiệp phát hành bắt buộc phải mua lại trái phiếu trước hạn theo báo cáo của tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, đại diện người sở hữu trái phiếu và công bố thông tin của doanh nghiệp phát hành (nếu có).
3. Nhà đầu tư và doanh nghiệp phát hành trái phiếu truy cập chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp để tìm hiểu thông tin về tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp theo quy chế tiếp nhận, giám sát công bố thông tin, báo cáo và vận hành chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp do Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam ban hành."
Và
"Điều 39. Báo cáo của tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, đại diện người sở hữu trái phiếu, Sở giao dịch chứng khoán và Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam
1. Tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý và hằng năm cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
2. Đại diện người sở hữu trái phiếu thực hiện chế độ báo cáo cho Sở giao dịch chứng khoán định kỳ hàng quý, hằng năm và báo cáo trong trường hợp phát hiện doanh nghiệp phát hành có hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện các cam kết với nhà đầu tư.
3. Tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý, hằng năm cho Sở giao dịch chứng khoán.
4. Chế độ báo cáo của Sở giao dịch chứng khoán:
a) Sở giao dịch chứng khoán thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý, hằng năm cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về tình hình chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp gồm chào bán tại thị trường trong nước và chào bán ra thị trường quốc tế;
b) Ngoài chế độ báo cáo định kỳ theo quy định tại điểm a khoản này, Sở giao dịch chứng khoán báo cáo đột xuất cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo yêu cầu của cơ quan quản lý.
5. Chế độ báo cáo của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam:
a) Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý, hằng năm cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về tình hình đăng ký, lưu ký, chuyển quyền sở hữu, cơ cấu nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp chào bán riêng lẻ tại thị trường trong nước;
b) Ngoài chế độ báo cáo định kỳ theo quy định tại điểm a khoản này, Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam báo cáo đột xuất cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo yêu cầu của cơ quan quản lý.
6. Chế độ báo cáo của tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu, đại diện người sở hữu trái phiếu, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, Sở giao dịch chứng khoán và Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính."
Theo đó, trong thời hạn tối thiểu 10 ngày kể từ ngày kết thúc đợt chào bán trái phiếu, doanh nghiệp phát hành gửi nội dung công bố thông tin về kết quả đợt chào bán trái phiếu theo Mẫu số 08 Thông tin về kết quả chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế ban hành kèm theo Nghị định số 200/2026/NĐ-CP đến Sở giao dịch chứng khoán. Sở giao dịch chứng khoán tiếp nhận nội dung công bố thông tin về kết quả chào bán trái phiếu ra thị trường quốc tế của doanh nghiệp để tổng hợp, công bố thông tin trên chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp theo điều luật về Chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp tại Sở giao dịch chứng khoán và báo cáo về tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp theo quy định về báo cáo của tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, đại diện người sở hữu trái phiếu, Sở giao dịch chứng khoán và Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam.
Trong trường hợp doanh nghiệp hủy đợt chào bán trái phiếu, doanh nghiệp công bố thông tin và gửi nội dung công bố thông tin đến Sở giao dịch chứng khoán chậm nhất 10 ngày kể từ ngày kết thúc việc phân phối trái phiếu.
Như vậy, quy định công bố thông tin về kết quả đợt chào bán ra thị trường quốc tế đã thiết lập cơ chế cập nhật thông tin về kết quả đợt phát hành một cách tương đối kịp thời và có hệ thống. Việc tiếp nhận, tổng hợp và công bố thông tin trên chuyên trang thông tin về trái phiếu doanh nghiệp giúp thông tin về kết quả chào bán ra thị trường quốc tế được tập trung và thuận tiện cho việc theo dõi. Đồng thời, nghĩa vụ công bố thông tin của doanh nghiệp phát hành trong trường hợp hủy đợt chào bán giúp bảo đảm các thay đổi liên quan đến quá trình phát hành được cập nhật đầy đủ và kịp thời, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch và khả năng giám sát đối với hoạt động phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế.
Trân trọng./.