Báo cáo của tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, đại diện người sở hữu trái phiếu, Sở giao dịch chứng khoán và Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam được quy định như thế nào?
Báo cáo của tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, đại diện người sở hữu trái phiếu, Sở giao dịch chứng khoán và Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam được quy định như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Tôi đang tìm hiểu để đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp và muốn có thêm thông tin để đánh giá tình hình phát hành, giao dịch trái phiếu cũng như việc thực hiện các nghĩa vụ về trái phiếu. Liên quan đến vấn đề này, các tổ chức như tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, đại diện người sở hữu trái phiếu, Sở giao dịch chứng khoán và Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam có nghĩa vụ báo cáo những nội dung gì? Các báo cáo này được thực hiện định kỳ hay trong những trường hợp đặc biệt nào? Rất mong Luật sư giải đáp. Xin cảm ơn!
MỤC LỤC
Trả lời:
1. Đối tượng áp dụng của Nghị định số 200/2026/NĐ-CP ngày 05/6/2026 của Chính phủ về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế bao gồm những chủ thể nào?
Đối tượng áp dụng của Nghị định số 200/2026/NĐ-CP ngày 05/6/2026 của Chính phủ về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế (sau đây gọi tắt là "Nghị định số 200/2026/NĐ-CP") được quy định tại Điều 2 như sau:
1. Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước, chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế (sau đây gọi tắt là doanh nghiệp phát hành).
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước, chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế."
Theo đó, Nghị định 200/2026/NĐ-CP có đối tượng áp dụng được quy định bao quát, không chỉ áp dụng trực tiếp cho các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hoạt động tại Việt Nam tham gia chào bán và giao dịch trái phiếu riêng lẻ, bao gồm cả trong nước và quốc tế, mà còn ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan trong toàn bộ quá trình này.
Như vậy, đối tượng áp dụng của Nghị định số 200/2026/NĐ-CP được xác định dựa trên cả chủ thể trực tiếp thực hiện hoạt động chào bán, giao dịch trái phiếu và các chủ thể có liên quan đến hoạt động này. Cách xác định này bảo đảm các hoạt động chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp thuộc đối tượng áp dụng được thực hiện trong một khuôn khổ pháp lý thống nhất.
2. Báo cáo của tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, đại diện người sở hữu trái phiếu, Sở giao dịch chứng khoán và Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam được quy định như thế nào?
Báo cáo của tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, đại diện người sở hữu trái phiếu, Sở giao dịch chứng khoán và Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam được pháp luật ghi nhận tại Điều 39 Nghị định số 200/2026/NĐ-CP như sau:
1. Tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý và hằng năm cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
2. Đại diện người sở hữu trái phiếu thực hiện chế độ báo cáo cho Sở giao dịch chứng khoán định kỳ hàng quý, hằng năm và báo cáo trong trường hợp phát hiện doanh nghiệp phát hành có hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện các cam kết với nhà đầu tư.
3. Tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý, hằng năm cho Sở giao dịch chứng khoán.
4. Chế độ báo cáo của Sở giao dịch chứng khoán:
a) Sở giao dịch chứng khoán thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý, hằng năm cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về tình hình chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp gồm chào bán tại thị trường trong nước và chào bán ra thị trường quốc tế;
b) Ngoài chế độ báo cáo định kỳ theo quy định tại điểm a khoản này, Sở giao dịch chứng khoán báo cáo đột xuất cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo yêu cầu của cơ quan quản lý.
5. Chế độ báo cáo của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam:
a) Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý, hằng năm cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về tình hình đăng ký, lưu ký, chuyển quyền sở hữu, cơ cấu nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp chào bán riêng lẻ tại thị trường trong nước;
b) Ngoài chế độ báo cáo định kỳ theo quy định tại điểm a khoản này, Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam báo cáo đột xuất cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo yêu cầu của cơ quan quản lý.
Theo đó, pháp luật xác định nghĩa vụ báo cáo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng chủ thể, cụ thể như sau:
Thứ nhất, tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu thực hiện chế độ báo cáo hàng quý và hằng năm cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, chế độ báo cáo này sẽ được hướng dẫn chi tiết bởi Bộ trưởng Bộ Tài chính. Việc báo cáo định kỳ sẽ giúp Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cập nhật thường xuyên thông tin liên quan đến hoạt động tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu và hoạt động của tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu.
Thứ hai, đại diện người sở hữu trái phiếu thực hiện chế độ báo cáo cho Sở giao dịch chứng khoán định kỳ hàng quý, hằng năm và báo cáo trong trường hợp phát hiện doanh nghiệp phát hành có hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện các cam kết với nhà đầu tư. Việc thực hiện chế độ báo cáo của đại diện người sở hữu trái phiếu sẽ được Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn. Trách nhiệm báo cáo của đại diện người sở hữu trái phiếu không chỉ mang tính định kỳ mà còn phát sinh khi doanh nghiệp phát hành có dấu hiệu vi phạm liên quan đến cam kết với nhà đầu tư. Điều này sẽ giúp thông tin về việc thực hiện nghĩa vụ được cập nhật kịp thời hơn, đặc biệt trong những trường hợp có khả năng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của nhà đầu tư.
Thứ ba, đối với tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, các chủ thể này thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý, hằng năm cho Sở giao dịch chứng khoán. Bộ trưởng Bộ Tài chính sẽ hướng dẫn chế độ báo cáo định kỳ cho tổ chức đấu thầy, bảo lãnh, đại lý phát hành. Việc quy định cụ thể về chủ thể, cơ quan tiếp nhận và thời điểm thực hiện giúp xác định rõ phạm vi, tần suất của nghĩa vụ báo cáo của tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành.
Thứ tư, đối với Sở giao dịch chứng khoán, chế độ báo cáo của được ghi nhận như sau:
- Sở giao dịch chứng khoán thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý, hằng năm cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về tình hình chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp gồm chào bán tại thị trường trong nước và chào bán ra thị trường quốc tế;
- Ngoài chế độ báo cáo định kỳ theo hàng quý và hằng năm, Sở giao dịch chứng khoán báo cáo đột xuất cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo yêu cầu của cơ quan quản lý.
Vậy, ngoài chế độ báo cáo định kỳ hàng quý và hằng năm, Sở giao dịch chứng khoán còn có chế độ báo cáo phát sinh theo yêu cầu của cơ quan quản lý. Nội dung báo cáo có phạm vi bao quát cả hoạt động chào bán, giao dịch trái phiếu ở thị trường trong nước và quốc tế, tạo cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quản lý, theo dõi thị trường. Để bảo đảm thực hiện đúng pháp luật, chế độ báo cáo của Sở giao dịch chứng khoán thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Cuối cùng, đối với Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam, chế độ báo cáo được thực hiện như sau:
- Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý, hằng năm cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về tình hình đăng ký, lưu ký, chuyển quyền sở hữu, cơ cấu nhà đầu tư trái phiếu doanh nghiệp chào bán riêng lẻ tại thị trường trong nước;
- Ngoài chế độ báo cáo định kỳ hàng quý và hằng năm nêu trên, Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam báo cáo đột xuất cho Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo yêu cầu của cơ quan quản lý.
Có thể thấy, những thông tin do Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện theo chế độ báo cáo sẽ phản ánh tình hình quản lý, sở hữu và biến động liên quan đến trái phiếu sau khi phát hành. Việc kết hợp chế độ báo cáo định kỳ với báo cáo đột xuất giúp cơ quan quản lý có thể tiếp cận thông tin thường xuyên và có thể kịp thời nắm bắt khi phát sinh nhu cầu quản lý. Chế độ báo cáo này của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam sẽ được Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết.
Như vậy, chế độ báo cáo của tổ chức tư vấn hồ sơ chào bán trái phiếu, đại diện người sở hữu trái phiếu, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh, đại lý phát hành, Sở giao dịch chứng khoán và Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam tại Nghị định số 200/2026/NĐ-CP đã xác định nghĩa vụ báo cáo cho các chủ thể khác nhau tùy theo chức năng, vai trò của họ trong hoạt động chào bán và giao dịch trái phiếu. Bên cạnh báo cáo định kỳ, một số chủ thể còn phải báo cáo khi phát hiện hành vi vi phạm hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý. Điều này giúp tạo dòng thông tin xuyên suốt để phục vụ việc theo dõi tình hình chào bán, giao dịch và thực hiện các cam kết liên quan đến trái phiếu. Tuy nhiên, chế độ báo cáo của các chủ thể theo Nghị định số 200/2026/NĐ-CP chỉ mới xác định khung nghĩa vụ báo cáo, các nội dung, cách thức thực hiện cụ thể sẽ được hướng dẫn bởi Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Trân trọng./.