THỦ TỤC XÁC NHẬN CHA CHO CON
|
1. Trình tự thực hiện |
Bước 1: Cha hoặc mẹ của trẻ nộp hồ sơ yêu cầu xác nhận cha con tại Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi cư trú của trẻ. Bước 2: Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ. Bước 3: Nếu cần thiết, tiến hành giám định ADN để xác định mối quan hệ cha con. Bước 4: Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định công nhận cha cho con. |
|
2. Cách thức thực hiện |
- Nộp hồ sơ trực tiếp tại Ủy ban Nhân dân cấp xã hoặc qua bưu điện. - Nếu có tranh chấp, có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. |
|
3. Thành phần hồ sơ |
- Giấy khai sinh của trẻ; - Giấy tờ tùy thân của cha và mẹ (Chứng minh nhân dân hoặc Căn cước công dân, Sổ hộ khẩu); - Giấy tờ chứng minh mối quan hệ cha con (nếu có, ví dụ: giấy tờ hôn nhân, các chứng cứ khác); - Giấy cam đoan của cha mẹ (nếu cần); |
|
4. Thời hạn giải quyết |
- Trong thời gian 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ và hợp lệ đối với Ủy ban Nhân dân cấp xã. - Nếu cần giám định ADN, thời gian giải quyết có thể kéo dài hơn, khoảng từ 15 đến 30 ngày tùy vào độ phức tạp của vụ việc. |
|
5. Đối tượng thực hiện |
- Cha hoặc mẹ của trẻ yêu cầu xác nhận cha cho con. - Người giám hộ hợp pháp của trẻ (nếu có). |
|
6. Cơ quan thực hiện |
- Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi trẻ cư trú (nếu việc xác nhận không có tranh chấp). - Tòa án nhân dân (nếu có tranh chấp hoặc yêu cầu giám định ADN). |
|
7. Kết quả thực hiện |
- Quyết định xác nhận cha cho con hoặc thông báo không công nhận (nếu không có đủ chứng cứ hoặc không xác định được cha con); - Giấy xác nhận mối quan hệ cha con (trường hợp thành công). |
|
8. Lệ phí |
- Hiện tại, thủ tục xác nhận cha con tại Ủy ban Nhân dân cấp xã không thu lệ phí. - Nếu cần giám định ADN, chi phí sẽ phụ thuộc vào cơ sở giám định (lệ phí có thể từ vài trăm nghìn đến vài triệu đồng). |
|
9. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai |
- Mẫu tờ khai yêu cầu xác nhận cha cho con (tùy theo mẫu tờ khai của UBND cấp xã). - Mẫu giấy khai sinh của trẻ (theo quy định của Bộ Tư pháp). |
|
10. Căn cứ pháp lý |
- Bộ luật Dân sự 2015; - Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; - Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ. |