Sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được quy định thực hiện như thế nào?

Sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được quy định thực hiện như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Tôi muốn tìm hiểu rõ về việc sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, vậy theo quy định pháp luật hiện hành thì việc tôi được sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp sẽ được quy định và thực hiện như thế nào để bảo đảm đúng thẩm quyền, trình tự và phù hợp với quy định của pháp luật? Xin cảm ơn Luật sư!

MỤC LỤC

1. Mục đích, đối tượng, phương thức của việc sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được quy định thực hiện như thế nào?

2. Thẩm quyền của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp trong sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được quy định thực hiện như thế nào?

 

Trả lời:

1. Mục đích, đối tượng, phương thức của việc sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được quy định thực hiện như thế nào?

Căn cứ theo Điều 29, 30 và 31 Thông tư số 06/2013/TT-BTP ngày 06/02/2013 của Bộ Tư pháp hướng dẫn việc quản lý, sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp quy định như sau:

“Điều 29. Mục đích sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp

Việc sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp nhằm phục vụ các mục đích sau đây:

1. Phục vụ công tác cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

2. Cung cấp thông tin lý lịch tư pháp cho các cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp.

3. Phục vụ công tác thống kê, báo cáo về lý lịch tư pháp.”

“Điều 30. Đối tượng sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp

Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, người làm công tác lý lịch tư pháp có quyền sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp theo thẩm quyền, phạm vi chức trách, nhiệm vụ được giao.”

“Điều 31. Phương thức sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp

1. Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp sử dụng và khai thác dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử thông qua phần mềm chuyên dụng.

2. Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp sử dụng và khai thác hồ sơ lý lịch tư pháp bằng giấy thông qua nghiệp vụ tra cứu, tìm kiếm hồ sơ được lưu trữ.”

Từ các quy định trên, có thể thấy rằng việc sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được pháp luật quy định hết sức chặt chẽ, có tính hệ thống và bảo đảm tính minh bạch. Cụ thể, về mục đích, cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp chỉ được khai thác để phục vụ ba nhóm hoạt động: Cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo yêu cầu hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; cung cấp thông tin cho các cơ quan có thẩm quyền theo Luật Lý lịch tư pháp; và phục vụ công tác thống kê, báo cáo. Điều này cho thấy pháp luật đặt trọng tâm vào việc sử dụng dữ liệu đúng mục đích, tránh lạm dụng hoặc khai thác sai phạm.

Về đối tượng, chỉ có cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cán bộ được giao nhiệm vụ mới có quyền khai thác trong phạm vi thẩm quyền, qua đó đảm bảo tính bảo mật, hạn chế nguy cơ xâm phạm dữ liệu cá nhân hoặc sử dụng trái phép.

Về phương thức, pháp luật phân biệt rõ hai hình thức: Khai thác dữ liệu điện tử thông qua phần mềm chuyên dụng và khai thác hồ sơ giấy thông qua nghiệp vụ tra cứu, tìm kiếm hồ sơ được lưu trữ. Quy định này vừa bảo đảm ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu hiện đại, vừa duy trì cơ chế truyền thống để xử lý hồ sơ lưu trữ bằng giấy, bảo đảm tính toàn diện và phù hợp với thực tiễn quản lý.

Như vậy, có thể khẳng định rằng các quy định trên đã thiết lập một khuôn khổ pháp lý đầy đủ, khoa học nhằm quản lý thống nhất việc sử dụng, khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Hệ thống này vừa bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý và an toàn trong việc khai thác thông tin, vừa góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức có liên quan.

2. Thẩm quyền của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp trong sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được quy định thực hiện như thế nào?

Căn cứ theo Điều 32 Thông tư số 06/2013/TT-BTP ngày 06/02/2013 của Bộ Tư pháp hướng dẫn việc quản lý, sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp quy định như sau:

“Điều 32. Thẩm quyền của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp trong sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp

1. Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia có thẩm quyền sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và tại các Sở Tư pháp.

Trường hợp thực hiện việc sao chép dữ liệu lý lịch tư pháp điện tử trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Sở Tư pháp, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia phải thông báo cho Sở Tư pháp.

Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia có quyền yêu cầu Sở Tư pháp tra cứu, cung cấp thông tin hồ sơ lý lịch tư pháp bằng giấy trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.

2. Sở Tư pháp có thẩm quyền sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Sở Tư pháp và có quyền yêu cầu Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp khác cung cấp thông tin trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp để phục vụ hoạt động quản lý lý lịch tư pháp.

3. Yêu cầu cung cấp thông tin có thể gửi qua mạng máy tính hoặc qua bưu điện.”

Theo đó, thẩm quyền sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp đã được phân định một cách chặt chẽ, hợp lý giữa Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp, nhằm bảo đảm sự thống nhất, liên thông và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Cụ thể, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia giữ vai trò trung tâm, vừa trực tiếp quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu tại chính mình và tại các Sở Tư pháp, vừa có quyền yêu cầu Sở Tư pháp cung cấp thông tin hồ sơ bằng giấy, đồng thời khi tiến hành sao chép dữ liệu tại địa phương phải thực hiện trách nhiệm thông báo, qua đó thể hiện cơ chế quản lý mang tính điều phối, giám sát và thống nhất ở tầm quốc gia.

Trong khi đó, Sở Tư pháp được trao thẩm quyền chủ động trong việc khai thác, sử dụng dữ liệu tại địa phương mình quản lý, đồng thời có quyền yêu cầu Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia hoặc các Sở Tư pháp khác cung cấp dữ liệu cần thiết, bảo đảm tính liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa các cơ quan. Ngoài ra, việc cho phép gửi yêu cầu cung cấp thông tin qua mạng máy tính hoặc qua bưu điện không chỉ tạo thuận lợi, giảm thiểu thủ tục hành chính mà còn phù hợp với xu hướng chuyển đổi số trong quản lý công, song vẫn giữ phương thức truyền thống để đáp ứng các tình huống thực tiễn.

Tóm lại, quy định trên đã thiết lập một cơ chế phối hợp hài hòa, có tính pháp lý rõ ràng và khoa học giữa Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp, vừa bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trên phạm vi toàn quốc, vừa bảo đảm tính chủ động, trách nhiệm và hiệu quả trong quản lý ở cấp địa phương. Điều này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp mà còn đảm bảo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong quá trình sử dụng dữ liệu, phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền.

Trân trọng./.