Nguồn án lệ về yêu cầu đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê tài sản (Quyết định giám đốc thẩm số 01/2024/KDTM-GĐT ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân tối cao)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ YÊU CẦU ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG THUÊ TÀI SẢN (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 01/2024/KDTM-GĐT NGÀY 10/01/2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO)
Quyết định giám đốc thẩm số 01/2024/KDTM-GĐT ngày 10/01/2024 của Tòa án nhân dân tối cao hủy Quyết định giám đốc thẩm Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm (được sửa chữa, bổ sung tại Quyết định số 01/QĐ-SCBSBA ngày 05/4/2021) của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên về vụ án kinh doanh thương mại “Yêu cầu đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê tài sản” giữa nguyên đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại Quỳnh T với bị đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Ô tô Ánh S.
Nội dung hủy án:
“[3] Trong vụ án này, Công ty Quỳnh T khởi kiện yêu cầu chấm dứt việc thực hiện các Hợp đồng thuê nhà xưởng vì cho rằng Công ty Ánh S vi phạm hợp đồng. Như vậy, quan hệ tranh chấp giữa các bên là tranh chấp về việc yêu cầu đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà xưởng trên đất; đồng thời UBND tỉnh Hưng Yên cũng đã có ý kiến đồng ý cho Công ty Ánh S triển khai dự án, thuê lại nhà xưởng của Công ty Quỳnh T để kinh doanh đại lý ô tô (Thông báo số 29/TBUBND ngày 03/4/2006 của UBND tỉnh Hưng Yên). Do vậy, Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết trong phạm vi hợp đồng thuê nhà xưởng và nhận định không cần thiết phải đưa UBND tỉnh Hưng Yên tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Cho nên, việc Tòa án cấp giám đốc thẩm cho rằng: “Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không đưa UBND tỉnh Hưng Yên vào tham gia tố tụng để làm rõ quan điểm, chủ trương của UBND tỉnh đối với việc cho thuê đất, cho thuê lại đất, cho thuê nhà xưởng trên đất và việc thực hiện dự án của Công ty Ánh S, Công ty Quỳnh T là chưa đủ căn cứ để giải quyết vụ án”, là không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên trong vụ án này.
[4] Theo Bản án dân sự phúc thẩm số 58/2010/DSPT ngày 13/4/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản thì Công ty Ánh S phải trả cho ông X số tiền 2.650.000.000 đồng. Thực tế, tại thời điểm giải quyết vụ án kinh doanh thương mại thì Tòa án cũng như cơ quan thi hành án dân sự chưa có quyết định kê biên nhà xưởng, cưỡng chế thi hành án đối với Công ty Ánh S. Đối với nhà xưởng là tài sản do Công ty Ánh S xây dựng, trong vụ án này, Tòa án cấp phúc thẩm đánh giá các tài sản này được Công ty Quỳnh T cho phép xây dựng kiên cố nên không thể di dời được hoặc nếu có di dời thì không còn hoặc giảm giá trị sử dụng. Mặt khác, mục đích xây dựng để thực hiện mục tiêu kinh doanh như đề xuất của Công ty Ánh S với UBND tỉnh Hưng Yên và tại phiên tòa phúc thẩm ông K đại diện Công ty Ánh S cũng nhất trí giao cho Công ty Quỳnh T để đối trừ nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng nên việc Tòa án cấp phúc thẩm quyết định giao cho Công ty Quỳnh T được quyền sở hữu nhưng phải thanh toán lại giá trị cho Công ty Ánh S là có căn cứ và hợp lý.
[5] Pháp luật thi hành án dân sự không có quy định nào cho phép Cơ quan thi hành án dân sự được phép kê biên tài sản để thi hành án khi tài sản đó đang là đối tượng tranh chấp trong một vụ án dân sự hoặc hình sự mà Tòa án đang thụ lý giải quyết. Trong trường hợp này, các bên tranh chấp về hợp đồng thuê nhà xưởng giữa Công ty Quỳnh T với Công ty Ánh S, theo đó căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì Tòa án phải có quyết định xử lý về nhà xưởng của Công ty Ánh S đã xây dựng trên đất của Công ty Quỳnh T. Vì vậy, việc Cơ quan thi hành án dân sự có Quyết định ngày 04/8/2022 kê biên nhà xưởng của Công ty Ánh S để thi hành Bản án dân sự phúc thẩm số 58/2010/DSPT ngày 13/4/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (theo nội dung thể hiện tại Công văn số 905/CVCCTHADS ngày 14/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn L, tỉnh Hưng Yên), trong khi Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án “Yêu cầu đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê tài sản” này là không có căn cứ nên không có giá trị pháp lý.
[6] Như vậy, Công ty Quỳnh T và Công ty Ánh S thực hiện hợp đồng thuê nhà xưởng khi UBND tỉnh Hưng Yên có Thông báo số 29/TB-UBND ngày 03/4/2006 đồng ý chủ trương cho phép Công ty Ánh S thuê 9.000m2 nhà xưởng trong khuôn viên khu đất có diện tích 10.523m2 được UBND tỉnh cho Công ty Quỳnh T thuê thực hiện dự án đầu tư xây dựng Salon ô tô Ánh S, nhưng Tòa án cấp giám đốc thẩm lại cho rằng với nội dung thông báo nêu trên thì Công ty Quỳnh T không có quyền cho Công ty Ánh S thuê đất là không đúng. Trong trường hợp này, cần phải hiểu là UBND tỉnh đã biết và gián tiếp cho phép Công ty Quỳnh T cho Công ty Ánh S thuê nhà xưởng, thì Công ty Ánh S mới có điều kiện để triển khai dự án theo Thông báo nêu trên của UBND tỉnh Hưng Yên. Ngoài ra, tại thời điểm giải quyết vụ án, Cơ quan thi hành án dân sự chưa có quyết định kê biên, cưỡng chế thi hành án đối với Công ty Ánh S nên việc Tòa án cấp phúc thẩm giao tài sản của Công ty Ánh S trên đất cho Công ty Quỳnh T là không trái pháp luật, nhưng Tòa án cấp giám đốc thẩm nhận định việc giao tài sản này không đúng là không có cơ sở. Do nhận định không chính xác các tình tiết khách quan nêu trên nên Quyết định giám đốc thẩm hủy Bản án phúc thẩm là không đúng.”