Nguồn án lệ về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa (Quyết định giám đốc thẩm số 05/2025/KDTM-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 05/2025/KDTM-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 05/2025/KDTM-GĐT ngày 14/5/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Nội dung hủy án:
“[6] Tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 28/3/2016, Công ty X xác nhận còn nợ Công ty I số tiền nợ gốc mua hàng tính đến ngày 27/3/2016 là 9.371.812.200 đồng. Trong hồ sơ vụ án không có tài liệu nào thể hiện có việc chốt nợ giữa ba bên là Công ty I - Ngân hàng B - Công ty X. Tại Biên bản làm việc ngày 06/9/2016 giữa Công ty BOT - Công ty X - Công ty I thể hiện các bên chưa thực hiện được việc quyết toán do Công ty X chưa hoàn thiện hồ sơ quyết toán và giữa Công ty BOT với Công ty X chưa chốt được số liệu với nhau. Tại Thông báo số 1016/TB-B.PT ngày 13/6/2017 của Ngân hàng B về việc thông báo nội dung thống nhất tại cuộc họp giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc liên quan đến quyết toán, cung ứng vốn đối với Dự án đầu tư xây dựng QL1A đoạn Km 1212 + 400 đến Km 1265 thể hiện: Đối với các vấn đề liên quan đến Hợp đồng liên kết, các bên liên quan thực hiện xác nhận công nợ và đối chiếu với số liệu của Chủ đầu tư và Ngân hàng. Sau đó, Ngân hàng và Ban QLDA đường H sẽ tổ chức họp và xem xét giải quyết thanh toán cho các bên. Đối với các bên tham gia Hợp đồng liên kết 4 bên, sau khi thanh quyết toán, Ngân hàng sẽ ưu tiên xem xét thanh toán như sau: Nghĩa vụ tại Ngân hàng, các đơn vị cung cấp có tham gia Hợp đồng liên kết 4 bên, các nhà cung cấp khác, Công ty được tự sử dụng.
Như vậy, theo thỏa thuận của các bên tham gia Hợp đồng liên kết về giải quyết khó khăn, vướng mắc liên quan đến quyết toán thì việc Công ty I và Công ty X xác nhận công nợ giữa hai bên không liên quan đến trách nhiệm và không là cơ sở làm phát sinh nghĩa vụ thanh toán của Ngân hàng; chỉ sau khi các bên thực hiện thanh quyết toán, chuyển tiền vào tài khoản tại Ngân hàng thì Ngân hàng mới có trách nhiệm xem xét việc thanh toán theo thứ tự cho các đơn vị thụ hưởng.
Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm quyết định trường hợp Công ty X không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền 10.753.268.352 đồng cho Công ty I theo Hợp đồng số 108 (gồm nợ gốc là 7.471.812.200 đồng và nợ lãi tính đến ngày 30/6/2021 là 3.281.456.152 đồng) thì Ngân hàng phải có nghĩa vụ trả nợ Công ty I số tiền này là không có căn cứ. Vì vậy, cần hủy bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm để xác định lại chủ thể phải chịu trách nhiệm thanh toán đối với khoản nợ của Công ty I theo Hợp đồng số 108. Khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cần căn cứ Hợp đồng số 108 để xác định chủ thể nào phải thanh toán tiền mua nhựa đường? Về việc xác định Ngân hàng có trách nhiệm bảo lãnh thanh toán hay không thì cần xác minh giữa Ngân hàng và các bên có ký hợp đồng bảo lãnh, phát hành thư bảo lãnh và ký kết thủ tục bảo lãnh hay không? Ngân hàng có ký cam kết thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh hay không? trên cơ sở đó mới đủ căn cứ giải quyết vụ án.”