Nguồn án lệ về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" (Quyết định giám đốc thẩm số 46/2024/HS-GĐT)
NGUỒN ÁN LỆ VỀ TỘI "LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN" VÀ TỘI “SỬ DỤNG TÀI LIỆU GIẢ CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC” (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 46/2024/HS-GĐT)
Quyết định giám đốc thẩm số 46/2024/HS-GĐT ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện RD, tỉnh Lâm Đồng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Nội dung hủy án:
“[1]. Về hành vi làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đinh Thị X và bà Đinh Thị C1 của bị cáo Sơn H:
...
Người trực tiếp làm ra giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà X và bà C1 không phải là bị cáo Sơn H. Bị cáo H chỉ là người biết tên M1 trên mạng xã hội có làm giấy tờ giả và bị cáo cung cấp cho tên M1 những thông tin để M1 làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả giao lại cho bị cáo để bị cáo đưa cho bà X và bà C1. Hành vi này của bị cáo Sơn H đã phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 Bộ luật Hình sự chứ không phạm tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 Bộ luật Hình sự như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.
Bị cáo Sơn H đã dùng thủ đoạn gian dối, thông qua hành vi tung ra tin bị cáo có quen biết với những người có thẩm quyền để làm được nhanh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tạo ra sự tin tưởng cho bà X và bà C1 nhằm mục đich chiếm đoạt tiền của những người bị hại này. Hành vi của bị cáo Sơn H đã cấu thành tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm không điều tra, xử lý là bỏ lọt tội phạm như nội dung kháng nghị đã nêu là có căn cứ chấp nhận.
[2]. Về hành vi của bị cáo Cil Ha Đ:
...
Hành vi của bị cáo Cil Ha Đ đồng phạm với bị cáo Sơn H về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 Bộ luật Hình sự chứ không phạm tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 Bộ luật Hình sự như kháng nghị của Viện kiểm sát đã nêu, nên không chấp nhận nội dung kháng nghị này.
[3]. Về xử lý vật chứng:
Theo lời khai của 04 người là: Dơng Gur K’T, Kơ Să Ha V, Kră Jăn Ha S1, Kră Jăn Ha Rê M2 đều thừa nhận họ không được đào tạo, không thi sát hạch để được cấp giấy phép lái xe nên họ buộc phải biết và nhận thức rõ việc đưa tiền cho bị cáo Đ và bị cáo H nhờ làm giấy phép lái xe là giấy phép giả và là hành vi vi phạm pháp luật. Như vậy, số tiền họ đã bỏ ra đưa cho bị cáo Đ và bị cáo H phải tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Sơn H trả lại tiền cho những người này là không đúng quy định tại khoản 3 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
[4]. Ngoài ra, theo quy định tại khoản, khoản 5 Điều 3 Nghị định số 99 ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về quản lý và sử dụng con dấu thì con dấu là vật để đóng trên các văn bản,... tạo ra hình dấu trên các văn bản đó. Trong vụ án này, bị cáo H và Đ chỉ nhờ tên M1 làm giấy tờ giả chứ không làm giả con dấu. Dấu đỏ trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy phép lái xe chỉ là hình dấu giả. Các bị cáo chỉ phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo Điều 341 Bộ luật Hình sự.”