Giao dịch trái phiếu tại thị trường trong nước được quy định như thế nào?

Giao dịch trái phiếu tại thị trường trong nước được quy định như thế nào?

Luật sư cho tôi hỏi: Công ty tôi là thành viên giao dịch, nhận ủy thác từ một nhà đầu tư để mua trái phiếu của công ty khác trên hệ thống giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại Sở Giao dịch Chứng khoán. Tuy nhiên, tại thời điểm giao dịch, Sở Giao dịch Chứng khoán thông báo đang xem xét nguy cơ hủy bỏ đăng ký giao dịch đối với lô trái phiếu này vì công ty này bị phát hiện có dấu hiệu giả mạo thông tin trong hồ sơ thay đổi đăng ký giao dịch. Do đó, nhà đầu tư và công ty tôi có hơi lo ngại rủi ro nếu lựa chọn tiếp tục thực hiện giao dịch và muốn biết rằng hiện nay, pháp luật quy định về hoạt động giao dịch trái phiếu tại thị trường trong nước như thế nào? Mong Luật sư hỗ trợ, giải đáp!

MỤC LỤC

1. Trái phiếu là gì?

2. Giao dịch trái phiếu tại thị trường trong nước được quy định như thế nào?

 

Trả lời:

1. Trái phiếu là gì?

Trái phiếu được quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019 như sau:

Điều 4. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

...

3. Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của tổ chức phát hành.

Như vậy, trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của tổ chức phát hành. Việc nắm giữ trái phiếu không chỉ mang lại quyền lợi tài chính cho nhà đầu tư mà còn góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh và ổn định thị trường vốn. Do đó, hiểu đúng bản chất, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ trái phiếu là điều cần thiết để bảo đảm tính minh bạch, an toàn và bền vững của hoạt động huy động vốn.

2. Giao dịch trái phiếu tại thị trường trong nước được quy định như thế nào?

Hoạt động giao dịch trái phiếu doanh nghiệp sau khi phát hành là mắt xích quan trọng nhằm bảo đảm tính minh bạch, khả năng lưu thông và bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư trên thị trường trái phiếu riêng lẻ. Do đó, Điều 15 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính Phủ về việc quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế được sửa đổi bởi khoản 12 Điều 1 Nghị định 65/2022/NĐ-CP đã quy định chi tiết về hoạt động này như sau:

“Điều 16. Giao dịch trái phiếu

1. Doanh nghiệp phải đăng ký giao dịch trái phiếu đã phát hành trên hệ thống giao dịch trái phiếu doanh nghiệp chào bán riêng lẻ tại Sở giao dịch chứng khoán. Việc đăng ký giao dịch trái phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán theo quy định tại Điều này không hàm ý Sở giao dịch chứng khoán xác nhận và đảm bảo cho tính hợp pháp của đợt chào bán trái phiếu của doanh nghiệp và việc thanh toán đầy đủ lãi, gốc của trái phiếu.

2. Việc giao dịch trái phiếu phải được thực hiện thông qua thành viên giao dịch và đảm bảo tuân thủ các quy định:

a) Trái phiếu chỉ được phép giao dịch giữa các đối tượng nhà đầu tư nêu tại phương án phát hành trái phiếu, trừ trường hợp thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của Trọng tài hoặc thừa kế theo quy định của pháp luật.

b) Trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền bị hạn chế chuyển nhượng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 31 Luật Chứng khoán. Sau thời gian bị hạn chế chuyển nhượng, việc giao dịch trái phiếu thực hiện theo quy định tại điểm a khoản này.

3. Trình tự, thủ tục đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch trái phiếu doanh nghiệp chào bán riêng lẻ tại Sở giao dịch chứng khoán bao gồm:

a) Doanh nghiệp thực hiện đăng ký giao dịch trái phiếu chậm nhất là 15 ngày làm việc kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký trái phiếu của Tổng công ty lưu ký và bù trù chứng khoán Việt Nam.

b) Tổ chức phát hành gửi hồ sơ đăng ký giao dịch cho Sở giao dịch chứng khoán bằng hình thức điện tử theo Quy chế của Sở giao dịch chứng khoán. Hồ sơ đăng ký giao dịch bao gồm:

- Đơn đề nghị đăng ký giao dịch trái phiếu theo mẫu quy định tại Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định này;

- Giấy phép thành lập và hoạt động, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật;

- Giấy chứng nhận đăng ký trái phiếu của Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam;

- Quyết định phê duyệt, chấp thuận phương án phát hành trái phiếu;

- Văn bản chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật chuyên ngành (nếu có);

- Kết quả xếp hạng tín nhiệm của tổ chức xếp hạng tín nhiệm đối với doanh nghiệp phát hành trái phiếu hoặc loại trái phiếu phát hành (nếu có);

c) Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Sở giao dịch chứng khoán ra thông báo về việc trái phiếu đã đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch trái phiếu doanh nghiệp chào bán riêng lẻ tại Sở giao dịch chứng khoán, đồng thời thực hiện công bố thông tin trên trang thông tin điện tử của Sở giao dịch chứng khoán. Trường hợp từ chối, Sở giao dịch chứng khoán phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

d) Trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày Sở giao dịch chứng khoán ra thông báo về việc trái phiếu đã đăng ký giao dịch, doanh nghiệp phát hành có trách nhiệm đưa trái phiếu vào giao dịch trên hệ thống giao dịch trái phiếu doanh nghiệp chào bán riêng lẻ tại Sở giao dịch chứng khoán.

4. Đăng ký giao dịch trái phiếu của doanh nghiệp sau quá trình tổ chức lại và việc hủy bỏ đăng ký giao dịch trái phiếu:

a) Trái phiếu đã đăng ký giao dịch của công ty bị hợp nhất, bị sáp nhập được tiếp tục đăng ký giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán.

b) Các trường hợp hủy bỏ đăng ký giao dịch trái phiếu:

- Trái phiếu đến thời gian đáo hạn hoặc doanh nghiệp phát hành chuyển đổi, mua lại hoặc hoán đổi toàn bộ trái phiếu trước thời gian đáo hạn;

- Doanh nghiệp phát hành trái phiếu bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy phép thành lập và hoạt động trong lĩnh vực chuyên ngành;

- Sở giao dịch chứng khoán phát hiện doanh nghiệp phát hành giả mạo hồ sơ đăng ký giao dịch, giả mạo hồ sơ thay đổi đăng ký giao dịch

- Doanh nghiệp phát hành trái phiếu chấm dứt sự tồn tại do giải thể hoặc phá sản hoặc thực hiện chia, tách doanh nghiệp.

5. Thành viên giao dịch trên hệ thống giao dịch trái phiếu doanh nghiệp chào bán riêng lẻ tại Sở giao dịch chứng khoán bao gồm thành viên giao dịch và thành viên giao dịch đặc biệt được Sở giao dịch chứng khoán chấp thuận theo quy định của pháp luật chứng khoán.

a) Thành viên giao dịch là công ty chứng khoán.

b) Thành viên giao dịch đặc biệt là các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

c) Điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký thành viên, hủy bỏ tư cách thành viên, đình chỉ hoạt động đối với thành viên giao dịch đặc biệt tham gia giao dịch trái phiếu doanh nghiệp chào bán riêng lẻ tại Sở giao dịch chứng khoán được thực hiện theo quy định đối với thành viên giao dịch đặc biệt tham gia giao dịch công cụ nợ của Chính phủ quy định tại Nghị định số 155/2020/NĐ-CP.

6. Bộ Tài chính hướng dẫn việc tổ chức thị trường giao dịch trái phiếu doanh nghiệp chào bán riêng lẻ tại thị trường trong nước theo quy định tại Điều này.”

Dẫn chiếu đến quy định tại điểm c khoản 1 Điều 31 Luật Chứng khoán 2019 về Chào bán chứng khoán riêng lẻ của công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán như sau:

“Điều 31. Chào bán chứng khoán riêng lẻ của công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán

1. Điều kiện chào bán cổ phiếu riêng lẻ, trái phiếu chuyển đổi riêng lẻ, trái phiếu kèm chứng quyền riêng lẻ của công ty đại chúng bao gồm:

...

c) Việc chuyển nhượng cổ phiếu chào bán riêng lẻ, trái phiếu chuyển đổi chào bán riêng lẻ, trái phiếu kèm chứng quyền chào bán riêng lẻ bị hạn chế tối thiểu là 03 năm đối với nhà đầu tư chiến lược và tối thiểu là 01 năm đối với nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp kể từ ngày hoàn thành đợt chào bán, trừ trường hợp chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp hoặc thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của Trọng tài hoặc thừa kế theo quy định của pháp luật;”

Như vậy, sau khi đã phát hành trái phiếu trên hệ thống giao dịch trái phiếu doanh nghiệp chào bán riêng lẻ tại Sở giao dịch chứng khoán thì doanh nghiệp không những phải đăng ký giao dịch trái phiếu đã phát hành đó theo đúng trình tự, thủ tục luật định mà còn cần bảo đảm những điều kiện cụ thể sau đây:

- Trái phiếu chỉ được phép giao dịch giữa các đối tượng nhà đầu tư nêu tại phương án phát hành trái phiếu, trừ trường hợp thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của Trọng tài hoặc thừa kế theo quy định của pháp luật.

- Trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền bị hạn chế chuyển nhượng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 31 Luật Chứng khoán 2019. Sau thời gian bị hạn chế chuyển nhượng, việc giao dịch trái phiếu thực hiện theo điều kiện bên trên.

Ngoài ra, việc đăng ký giao dịch trái phiếu trên Sở giao dịch chứng khoán còn là yêu cầu bắt buộc nếu doanh nghiệp thực hiện việc tổ chức lại (bị hợp nhất, bị sáp nhập). Khi các điều kiện pháp lý cơ bản về tư cách doanh nghiệp phát hành, tính hợp lệ của hồ sơ hoặc khả năng tồn tại của trái phiếu không còn được đáp ứng, việc hủy bỏ đăng ký giao dịch trở thành biện pháp cần thiết để ngăn ngừa rủi ro cho nhà đầu tư và duy trì kỷ luật thị trường. Theo đó, doanh nghiệp có thể hủy bỏ việc đăng ký này nếu rơi vào các trường hợp sau:

- Trái phiếu đến thời gian đáo hạn hoặc doanh nghiệp phát hành chuyển đổi, mua lại hoặc hoán đổi toàn bộ trái phiếu trước thời gian đáo hạn;

- Doanh nghiệp phát hành trái phiếu bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy phép thành lập và hoạt động trong lĩnh vực chuyên ngành;

- Sở giao dịch chứng khoán phát hiện doanh nghiệp phát hành giả mạo hồ sơ đăng ký giao dịch, giả mạo hồ sơ thay đổi đăng ký giao dịch;

- Doanh nghiệp phát hành trái phiếu chấm dứt sự tồn tại do giải thể hoặc phá sản hoặc thực hiện chia, tách doanh nghiệp.

Cũng cần lưu ý, không phải cá nhân, tổ chức nào cũng được phép thực hiện giao dịch trên hệ thống giao dịch trái phiếu doanh nghiệp chào bán riêng lẻ tại Sở giao dịch chứng khoán mà chỉ có thành viên giao dịch là công ty chứng khoán và thành viên giao dịch đặc biệt là các ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài mới có quyền hạn thực hiện nhiệm vụ, trách nhiệm này.

Tóm lại, quy định về giao dịch trái phiếu trong khuôn khổ chào bán riêng lẻ không chỉ xác lập trình tự, thủ tục đăng ký giao dịch bắt buộc mà còn giới hạn đối tượng được phép giao dịch, đặt ra cơ chế công bố thông tin rõ ràng và xác định rõ trách nhiệm cho doanh nghiệp phát hành cũng như các thành viên giao dịch. Những quy định này không chỉ góp phần quan trọng vào việc bảo đảm tính minh bạch, nâng cao kỷ luật thị trường và bảo vệ nhà đầu tư, mà còn giúp thị trường trái phiếu doanh nghiệp vận hành một cách hiệu quả và an toàn hơn.

Trân trọng./.