Đề xuất Án lệ về hành vi trộm cắp thực vật quý, hiếm trong rừng đặc dụng
ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ HÀNH VI TRỘM CẮP THỰC VẬT QUÝ, HIẾM TRONG RỪNG ĐẶC DỤNG
Tình huống pháp lý:
Bị cáo lén lút vào rừng đặc dụng để cưa cây gỗ quý (loại thực vật quý, hiếm thuộc nhóm IIA) rồi đem cất giấu khúc gỗ đã cưa được.
Nội dung đề xuất án lệ:
“[2] Theo quy định tại mục điểm a tiểu mục 1.1 Mục 1 phần IV Thông tư liên tịch số 192007TTLT-BNN-BTP-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 08-3- 2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thì: “Khai thác trái phép cây rừng là một trong các hành vi sau đây: a) Khai thác cây rừng ở rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép trong trường hợp pháp luật quy định việc khai thác đó chỉ thực hiện khi đã được cấp giấy phép và giấy phép còn trong thời hạn”. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30-3-2006 của Chính phủ về khai thác thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thì: “Đối với thực vật rừng Nhóm II trong các khu rừng đặc dụng chỉ được khai thác vì mục đích nghiên cứu khoa học (kể cả để tạo nguồn giống bạn đầu phục vụ cho nuôi sinh sản, trồng cấy nhân tạo), quan hệ hợp tác quốc tế; việc khai thác thực vật rừng, động vật rừng Nhóm II trong các khu rừng đặc dụng không được làm ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo tồn các loài đó và phải có phương án được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt”. Như vậy, theo quy định trên thì cây gỗ Trắc là loại thực vật quý, hiểm thuộc nhóm IIA, không được phép khai thác và không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp phép khai thác vì mục đích kinh tế, chỉ được phép khai thác vì mục đích nghiên cứu khoa học.
[3] Tại khoản 1 Điều 1 Quy định về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức, hoạt động của Ban quản lý rừng đặc dụng Đ (ban hành kèm theo Quyết định số 61/2014/QĐ-UBND ngày 03-11-2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum) quy định: “Ban quản lý rừng đặc dụng Đ (sau đây gọi tắt là Ban quản lý) là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kon Tum, giúp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý, bảo vệ, bảo tồn và phát triển diện tích rừng đặc dụng trong phạm vi khu rừng đặc dụng Đ”. Tại khoản 5 và khoản 7 Điều 2 của Quy định trên cũng quy định quyền, nghĩa vụ của Ban quản lý: “Bảo vệ diện tích rừng Nhà nước đã giao; xây dựng và thực hiện phương án, biện pháp bảo vệ hệ sinh thái rừng; phòng, chống chặt phá rừng; phòng, chống săn, bắt, bẫy động vật rừng trái phép; phòng cháy, chữa cháy rừng; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng theo quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về đất đai, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy, pháp luật về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, pháp luật về thú y và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Tổ chức, thực hiện các hoạt động trồng rừng, phục hồi rừng, cải tạo rừng, sử dụng hợp lý tài nguyên tự nhiên trong rừng, nghiên cứu khoa học, giảng dạy, thực tập, cứu hộ động vật hoang dã”. Hàng năm, Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum đều đầu tư kinh phí cho Ban quản lý rừng đặc dụng Đ để thực hiện công tác quản lý, bảo vệ, bảo tồn và phát triển diện tích rừng. Theo báo cáo của Ban Nội chính Tỉnh ủy Kon Tum thì rừng đặc dụng Đ là khu rừng duy nhất tại Tây Nguyên có quần thể gỗ Trắc quý, hiểm, có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn giống gỗ Trắc. Năm 2016, tỉnh Kon Tum đã đầu tư xây dựng tường rào bảo vệ quanh rừng đặc dụng Đ với tổng kinh phí là 27,5 tỷ đồng từ nguồn ngân sách địa phương. Như vậy, rừng đặc dụng Đ là tài sản của Nhà nước, đã được Nhà nước giao cho Ban quản lý rừng đặc dụng Đ quản lý, bảo vệ theo quy định của pháp luật. Trong vụ án này, mục đích của các bị cáo là chiếm đoạt cây gỗ Trắc đã chết khô trong rừng đặc dụng Đ để bán lấy tiền. Các bị cáo đã lén lút vào rừng đặc dụng Đ cưa cây gỗ Trắc đã chết khô rồi lấy 01 khúc gỗ Trắc có chiều dài 2,07m, đường kính 27,5cm (trị giá 19.680.000 đồng). Hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản Tòa án cấp sơ thẩm kết án các bị cáo Lệ Quốc K, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc B1 và Phan Tiến D về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: Toàn bộ cây rừng tại rừng đặc dụng Đ là cây gỗ tự nhiền, trong các năm qua không được bất cứ cơ quan có thẩm quyền nào cho phép khai thác, tận thu, không được giao cho bất cứ cơ quan, tổ chức nào sử dụng định đoạt trong đó bao gồm cả cây gỗ trắc mà các bị cáo đã cưa, cắt; như vậy, lóng gỗ trắc mà các bị cáo đã chiếm đoạt không thể được coi là tài sản của Ban quản lý rừng đặc dụng Đ hay của bất cứ cơ quan tổ chức cụ thể nào; là không đúng, vì rừng đặc dụng Đ được Nhà nước giao cho Ban quản lý rừng đặc dụng Đ quản lý, bảo vệ (như đã nêu trên). Vì vậy, việc Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tụm tuyên bố các bị cáo Lê Quốc K, Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc B1 và Phan Tiến D không phạm tội Trộm cắp tài sản là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.”