Chào bán cổ phần riêng lẻ được quy định như thế nào?
Chào bán cổ phần riêng lẻ được quy định như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Công ty tôi thành lập và hoạt dộng trong lĩnh vực chăn nuôi thủy sản được 12 năm. Hiện tại, công ty muốn mở rộng quy mô và thu hút nhà đầu tư nước ngoài bằng cách chào bán cổ phần riêng lẻ. Tuy nhiên, công ty vẫn còn lo ngại rằng phương thức này có được áp dụng cho loại hình công ty cổ phần hay không? Để bảo đảm tổi thiểu rủi ro có thể phát sinh, tôi muốn hỏi hiện nay, pháp luật quy định về chào bán cổ phần riêng lẻ ra sao? Mong Luật sư hỗ trợ, giải đáp!
MỤC LỤC
1. Các loại cổ phần được quy định như thế nào?
2. Chào bán cổ phần riêng lẻ được quy định như thế nào?
Trả lời:
1. Các loại cổ phần được quy định như thế nào?
Các loại cổ phần được quy định tại Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2020 như sau:
“Điều 114. Các loại cổ phần
1. Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông. Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông.
2. Ngoài cổ phần phổ thông, công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi. Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi. Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây:
a) Cổ phần ưu đãi cổ tức;
b) Cổ phần ưu đãi hoàn lại;
c) Cổ phần ưu đãi biểu quyết;
d) Cổ phần ưu đãi khác theo quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật về chứng khoán.
3. Người được quyền mua cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định.
4. Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu cổ phần đó các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau.
5. Cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi. Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông.
6. Cổ phần phổ thông được dùng làm tài sản cơ sở để phát hành chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết được gọi là cổ phần phổ thông cơ sở. Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết có lợi ích kinh tế và nghĩa vụ tương ứng với cổ phần phổ thông cơ sở, trừ quyền biểu quyết.
7. Chính phủ quy định về chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết.”
Từ cơ sở trên cho thấy, công ty cổ phần có hai loại cổ phần là: (i) Cổ phần phổ thông và (ii) cổ phần ưu đãi. Trong đó, cổ phần phổ thông là loại cổ phần phổ biến và bắt buộc phải có. Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông.
Bên cạnh cổ phần phổ thông thì công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi. Có nhiều loại cổ phần ưu đãi khác nhau, bao gồm:
- Cổ phần ưu đãi cổ tức;
- Cổ phần ưu đãi hoàn lại;
- Cổ phần ưu đãi biểu quyết;
- Cổ phần ưu đãi khác theo quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật về chứng khoán.
Đáng chú ý, không phải ai cũng có quyền được mua các loại cổ phần ưu đãi: Cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác trong công ty, mà chỉ những người do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định thì mới có quyền mua chúng. Khi sở hữu cổ phần, cổ đông sẽ phải gánh chịu các quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm tương ứng.
Điều làm nên sự đặc biệt của loại hình này là sự chuyển đổi linh hoạt giữa cổ phần ưu đãi và cổ phần phổ thông. Cụ thể, cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông; nhưng cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi. Quy định này không chỉ bảo đảm tính ổn định của quyền biểu quyết, quyền quản lý trong công ty, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi có cơ hội tham gia sâu hơn vào hoạt động doanh nghiệp.
Trong thị trường vốn, chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết là công cụ tài chính hữu hiệu, được thiết kế nhằm mở rộng khả năng đầu tư, đặc biệt đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Theo quy định pháp luật, cổ phần phổ thông được sử dụng làm tài sản cơ sở để phát hành chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết được gọi là cổ phần phổ thông cơ sở. Cơ chế này không những góp phần bảo vệ quyền kiểm soát, quản trị công ty mà còn là nền tảng xác lập quyền lợi kinh tế giữa nhà đầu tư sở hữu chứng chỉ và doanh nghiệp.
2. Chào bán cổ phần riêng lẻ được quy định như thế nào?
Chào bán cổ phần riêng lẻ là một hình thức huy động vốn quan trọng đối với các công ty cổ phần tại Việt Nam, giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô mà không cần niêm yết công khai. Để có thể hiểu rõ về phương thức chào bán cổ phần này, Điều 125 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định cụ thể như sau:
“Điều 125. Chào bán cổ phần riêng lẻ
1. Chào bán cổ phần riêng lẻ của công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Không chào bán thông qua phương tiện thông tin đại chúng;
b) Chào bán cho dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp hoặc chỉ chào bán cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp.
2. Công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng thực hiện chào bán cổ phần riêng lẻ theo quy định sau đây:
a) Công ty quyết định phương án chào bán cổ phần riêng lẻ theo quy định của Luật này;
b) Cổ đông của công ty thực hiện quyền ưu tiên mua cổ phần theo quy định tại khoản 2 Điều 124 của Luật này, trừ trường hợp sáp nhập, hợp nhất công ty;
c) Trường hợp cổ đông và người nhận chuyển quyền ưu tiên mua không mua hết thì số cổ phần còn lại được bán cho người khác theo phương án chào bán cổ phần riêng lẻ với điều kiện không thuận lợi hơn so với điều kiện chào bán cho các cổ đông, trừ trường hợp Đại hội đồng cổ đông có chấp thuận khác.
c1) Có nợ phải trả (bao gồm giá trị trái phiếu dự kiến phát hành) không vượt quá 05 lần vốn chủ sở hữu của tổ chức phát hành theo báo cáo tài chính năm liền kề trước năm phát hành được kiểm toán; trừ tổ chức phát hành là doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp phát hành trái phiếu để thực hiện dự án bất động sản, tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan;
3. Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp tham gia mua, giao dịch, chuyển nhượng trái phiếu riêng lẻ thực hiện theo quy định pháp luật về chứng khoán.”
Dẫn chiếu đến quy định về chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu tại khoản 2 Điều 124 Luật Doanh nghiệp 2020 như sau:
“Điều 124. Chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu
2. Chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu của công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng được thực hiện như sau:
a) Công ty phải thông báo bằng văn bản đến cổ đông theo phương thức để bảo đảm đến được địa chỉ liên lạc của họ trong sổ đăng ký cổ đông chậm nhất là 15 ngày trước ngày kết thúc thời hạn đăng ký mua cổ phần;
b) Thông báo phải gồm họ, tên, địa chỉ liên lạc, quốc tịch, số giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với cổ đông là cá nhân; tên, mã số doanh nghiệp hoặc số giấy tờ pháp lý của tổ chức, địa chỉ trụ sở chính đối với cổ đông là tổ chức; số cổ phần và tỷ lệ sở hữu cổ phần hiện có của cổ đông tại công ty; tổng số cổ phần dự kiến chào bán và số cổ phần cổ đông được quyền mua; giá chào bán cổ phần; thời hạn đăng ký mua; họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty. Kèm theo thông báo phải có mẫu phiếu đăng ký mua cổ phần do công ty phát hành. Trường hợp phiếu đăng ký mua cổ phần không được gửi về công ty đúng hạn theo thông báo thì cổ đông đó coi như đã không nhận quyền ưu tiên mua;
c) Cổ đông có quyền chuyển quyền ưu tiên mua cổ phần của mình cho người khác.”
Như vậy, để thực hiện chào bán cổ phần riêng lẻ, công ty cổ phần không là công ty đại chúng phải đáp ứng các điều kiện tiên quyết sau:
- Không chào bán thông qua phương tiện thông tin đại chúng;
- Chào bán cho dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp hoặc chỉ chào bán cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp.
Về trình tự, thủ tục chào báo cổ phần riêng lẻ, công ty cổ phần không phải công ty đại chúng cần thực hiện các bước sau:
- Một là, công ty quyết định phương án chào bán cổ phần riêng lẻ.
- Hai là, cổ đông của công ty thực hiện quyền ưu tiên mua cổ phần theo quy định tại khoản 2 Điều 124 Luật Doanh nghiệp 2020, trừ trường hợp sáp nhập, hợp nhất công ty.
- Ba là, chào bán cho nhà đầu tư không phải cổ đông công ty. Trong trường hợp cổ đông và người nhận chuyển quyền ưu tiên mua không mua hết thì số cổ phần còn lại được bán cho người khác theo phương án chào bán cổ phần riêng lẻ với điều kiện không thuận lợi hơn so với điều kiện chào bán cho các cổ đông, trừ trường hợp Đại hội đồng cổ đông có chấp thuận khác. Nếu nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần chào bán phải làm thủ tục về mua cổ phần theo quy định của Luật Đầu tư.
Đáng lưu ý, theo Luật Doanh nghiệp 2014, khi công ty chào bán cố phẩn riêng lẻ thì phải thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định chào bán. Tuy nhiên, tại Luật Doanh nghiệp 2020, trách nhiệm thông báo này đã bị bãi bỏ.
Như vậy, căn cứ theo các quy định trên, hình thức huy động vốn thông qua chào bán cổ phần riêng lẻ được áp dụng cho loại hình công ty cổ phần, nhưng không là công ty đại chúng. Do đó, trong trường hợp của bạn, công ty vẫn có thể thực hiện được việc chào bán cổ phần riêng lẻ. Để có thể thực hiện hóa mong muốn của doanh nghiệp là mở rộng quy mô và thu hút nhà đầu tư, ngoài bảo đảm về loại hình doanh nghiệp thì công ty của bạn còn cần phải đáp ứng đầy đủ, trung thực và chính xác những điều kiện, yêu cầu được liệt kê tại Điều 125 Luật Doanh nghiệp 2020 nêu trên.
Trân trọng./.