Bán cổ phần được quy định như thế nào?
Bán cổ phần được quy định như thế nào?
Luật sư cho tôi hỏi: Công ty tôi thành lập và hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến thực phẩm trong 03 năm. Hiện tại, công ty dự kiến sẽ bán 5% cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài nhằm mục đích tăng vốn điều lệ và mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, việc bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài không phải là chuyện nhỏ và luôn tồn tại những rủi ro pháp lý tiềm ẩn. Do đó, tôi muốn hỏi pháp luật hiện hành quy định về vấn đề này ra sao? Mong Luật sư hỗ trợ, giải đáp!
MỤC LỤC
1. Các loại cổ phần được quy định như thế nào?
2. Bán cổ phần được quy định như thế nào?
Trả lời:
1. Các loại cổ phần được quy định như thế nào?
Các loại cổ phần được quy định tại Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2020 như sau:
“Điều 114. Các loại cổ phần
1. Công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông. Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông.
2. Ngoài cổ phần phổ thông, công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi. Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi. Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây:
a) Cổ phần ưu đãi cổ tức;
b) Cổ phần ưu đãi hoàn lại;
c) Cổ phần ưu đãi biểu quyết;
d) Cổ phần ưu đãi khác theo quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật về chứng khoán.
3. Người được quyền mua cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định.
4. Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu cổ phần đó các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau.
5. Cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi. Cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông.
6. Cổ phần phổ thông được dùng làm tài sản cơ sở để phát hành chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết được gọi là cổ phần phổ thông cơ sở. Chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết có lợi ích kinh tế và nghĩa vụ tương ứng với cổ phần phổ thông cơ sở, trừ quyền biểu quyết.
7. Chính phủ quy định về chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết.”
Từ cơ sở trên cho thấy, công ty cổ phần có hai loại cổ phần là: (i) Cổ phần phổ thông và (ii) cổ phần ưu đãi. Trong đó, cổ phần phổ thông là loại cổ phần phổ biến và bắt buộc phải có. Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông.
Bên cạnh cổ phần phổ thông thì công ty cổ phần có thể có cổ phần ưu đãi. Có nhiều loại cổ phần ưu đãi khác nhau, bao gồm:
- Cổ phần ưu đãi cổ tức;
- Cổ phần ưu đãi hoàn lại;
- Cổ phần ưu đãi biểu quyết;
- Cổ phần ưu đãi khác theo quy định tại Điều lệ công ty và pháp luật về chứng khoán.
Đáng chú ý, không phải ai cũng có quyền được mua các loại cổ phần ưu đãi: Cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại và cổ phần ưu đãi khác trong công ty, mà chỉ những người do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định thì mới có quyền mua chúng. Khi sở hữu cổ phần, cổ đông sẽ phải gánh chịu các quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm tương ứng.
Điều làm nên sự đặc biệt của loại hình này là sự chuyển đổi linh hoạt giữa cổ phần ưu đãi và cổ phần phổ thông. Cụ thể, cổ phần ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phần phổ thông theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông; nhưng cổ phần phổ thông không thể chuyển đổi thành cổ phần ưu đãi. Quy định này không chỉ bảo đảm tính ổn định của quyền biểu quyết, quyền quản lý trong công ty, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi có cơ hội tham gia sâu hơn vào hoạt động doanh nghiệp.
Trong thị trường vốn, chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết là công cụ tài chính hữu hiệu, được thiết kế nhằm mở rộng khả năng đầu tư, đặc biệt đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Theo quy định pháp luật, cổ phần phổ thông được sử dụng làm tài sản cơ sở để phát hành chứng chỉ lưu ký không có quyền biểu quyết được gọi là cổ phần phổ thông cơ sở. Cơ chế này không những góp phần bảo vệ quyền kiểm soát, quản trị công ty mà còn là nền tảng xác lập quyền lợi kinh tế giữa nhà đầu tư sở hữu chứng chỉ và doanh nghiệp.
2. Bán cổ phần được quy định như thế nào?
Bán cổ phần được quy định tại Điều 126 Luật Doanh nghiệp 2020 như sau:
“Điều 126. Bán cổ phần
Hội đồng quản trị quyết định thời điểm, phương thức và giá bán cổ phần. Giá bán cổ phần không được thấp hơn giá thị trường tại thời điểm bán hoặc giá trị được ghi trong sổ sách của cổ phần tại thời điểm gần nhất, trừ trường hợp sau đây:
1. Cổ phần bán lần đầu tiên cho những người không phải là cổ đông sáng lập;
2. Cổ phần bán cho tất cả cổ đông theo tỷ lệ sở hữu cổ phần hiện có của họ ở công ty;
3. Cổ phần bán cho người môi giới hoặc người bảo lãnh; trường hợp này, số chiết khấu hoặc tỷ lệ chiết khấu cụ thể phải được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định khác;
4. Trường hợp khác và mức chiết khấu trong các trường hợp đó do Điều lệ công ty hoặc nghị quyết Đại hội đồng cổ đông quy định.”
Nhằm bảo đảm tính chủ động trong quản lý vốn và sự linh hoạt trong chiến lược phát hành cổ phần của công ty, Hội đồng quản trị là cơ quan có thẩm quyền quyết định các yếu tố then chốt chẳng hạn như: thời điểm bán, phương thức bán và giá bán cổ phần. Đáng lưu ý, khi định giá bán cổ phẩn, phải tuân thủ nguyên tắc công bằngm không được bán thấp hơn giá thị trường hoặc giá trị ghi sổ tại thời điểm gần nhất, trừ một số trường hợp cụ thể sau:
- Bán cổ phần lần đầu tiên cho những người không phải là cổ đông sáng lập;
- Bán cổ phần cho tất cả cổ đông theo tỷ lệ sở hữu cổ phần hiện có của họ ở công ty;
- Bán cổ phần cho người môi giới hoặc người bảo lãnh; trường hợp này, số chiết khấu hoặc tỷ lệ chiết khấu cụ thể phải được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định khác;
- Trường hợp khác và mức chiết khấu trong các trường hợp đó do Điều lệ công ty hoặc nghị quyết Đại hội đồng cổ đông quy định.
Có thể thấy, việc xác định thời điểm, phương thức và giá bán cổ phần đóng vai trò quan trọng, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các cổ đông mà còn có tác động đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Chính bởi vậy mà việc tuân thủ đúng quy định pháp luật đặt ra không chỉ là điều thiết thực cần phải làm mà thông qua đó còn góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của các cổ đông, bảo đảm tính công bằng cũng như mức độ uy tín của công ty trong hoạt động huy động vốn.
Trân trọng./.