MỤC LỤC

 

1. Bản án hình sự phúc thẩm số 63/2026/HS-PT ngày 26/6/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử về tội “Gây ô nhiễm môi trường” đối với bị cáo Nguyễn Thị T do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T

2. Bản án hình sự phúc thẩm số 196/2026/HS-PT ngày 10/02/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử về tội “Gây ô nhiễm môi trường” đối với bị cáo Phan Viết M và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo

3. Bản án hình sự phúc thẩm số 103/2025/HS-PT ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử về tội “Gây ô nhiễm môi trường” đối với bị cáo Nguyễn Thị T do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T

4. Bản án hình sự phúc thẩm số 94/2025/HS-PT ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử về tội “Gây ô nhiễm môi trường” đối với bị cáo Lê Quang H do có kháng cáo của bị cáo Lê Quang H

5. Bản án hình sự phúc thẩm số 383/2025/HS-PT ngày 28/5/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Gây ô nhiễm môi trường” đối với các bị cáo Đinh Trung T và Nguyễn Thành P do có kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của các bị cáo

6. Bản án hình sự phúc thẩm số 234/2025/HS-PT ngày 14/4/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Gây ô nhiễm môi trường” đối với bị cáo Phạm Ngọc T do có kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc T

7. Bản án hình sự phúc thẩm số 128/2026/HS-PT ngày 05/02/2026 của Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Gây ô nhiễm môi trường” đối với bị cáo Mai Đức V do có kháng cáo của bị cáo Mai Đức V

8. Bản án hình sự phúc thẩm số 36/2024/HS-PT ngày 21/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Gây ô nhiễm môi trường” đối với Vũ Anh V và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo

9. Bản án hình sự phúc thẩm số 05/2023/HS-PT ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử về tội “Gây ô nhiễm môi trường” đối với bị cáo Lục Thế V do có kháng cáo của bị cáo Lục Thế V

 

 

1. Bản án hình sự phúc thẩm số 63/2026/HS-PT ngày 26/6/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử về tội “Gây ô nhiễm môi trường” đối với bị cáo Nguyễn Thị T do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T

Nội dung sửa án:

Về mức hình phạt, theo quy định tại Điều 235 Bộ luật Hình sự quy định về Tội Gây ô nhiễm môi trường thì “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm”. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và phù hợp. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo T nộp đơn trình bày về việc gia đình có công với cách mạng và hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn được UBND xã TTT xác nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy bị cáo có bố chồng là ông Nguyễn Xuân Dần được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba và có ông nội là ông ông Nguyễn Thế Quýnh được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự phát sinh tại giai đoạn xét xử phúc thẩm. Ngoài ra, xét nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo nhận thức pháp luật về vấn đề bảo vệ môi trường, quy trình xử lý chất thải còn hạn chế, do vậy cần chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

2. Bản án hình sự phúc thẩm số 196/2026/HS-PT ngày 10/02/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử về tội “Gây ô nhiễm môi trường” đối với bị cáo Phan Viết M và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo

Nội dung sửa án 

(i) Xét đơn kháng cáo của bị cáo Phan Viết M, nhận thấy: Mặc dù diễn biến của phiên tòa sơ thẩm thì bị cáo M có thừa nhận hành vi phạm tội nhưng cho rằng mức độ (định lượng chất thải rắn) dùng để quy kết cho bị cáo là quá cao. Tuy nhiên, quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm thì bị cáo M có nộp cho Tòa án cấp phúc thẩm tờ tường trình với nội dung “.. Sau khi xét xử sơ thẩm tôi đã nhận thấy lỗi lầm của mình và có làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Nay tôi làm tường trình này kính mong Quý Tòa xem xét cho tôi cũng như trình bày rõ nội dung kháng cáo của mình. Kính thưa Quý Tòa, trong tội của tôi thì khung hình phạt là phạt tù hoặc phạt tiền. Tôi kháng cáo mong Quý Tòa xem xét cho tôi được phạt tiền. Lý do: Tôi là lao động chính duy nhất trong gia đình, vợ tôi không có công ăn việc làm, hai con còn nhỏ đang đi học, lại phải nuôi cha mẹ già. Bên cạnh đó, ông nội tôi (Phan Văn C1) là người có công cách mạng được thưởng huân chương kháng chiến hạng II, tôi ăn năn hối cải, nhận thức sai lầm…”. Bị cáo M nộp kèm “Giấy xác nhận nhân thân người có công với cách mạng” có ông nội được tặng H1 chiến kháng chiến hạng II, Quyết định số 22 ngày 22 tháng 4 năm 1985. Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm cũng nhận được “Đơn trình bày” của người thân trong gia đình bị cáo M gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng đã tuyên truyền kiến thức pháp luật cho bị cáo M, bị cáo M đã nhận thức được hành vi gây ô nhiễm môi trường là vi phạm pháp luật. Nhận thấy, trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, nhận thức pháp luật của bị cáo M có rõ ràng hơn, thừa nhận hành vi phạm tội của của mình, cung cấp thêm các tình tiết giảm nhẹ mới để xin giảm nhẹ hình phạt và xin phạt tiền. Đồng thời tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo M và bị cáo Đ1 xin nộp số tiền 244.906.200 đồng để khắc phục hậu quả (các bị cáo đã nộp xong theo Biên lai thu tiền số 0000355 ngày 05/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp). Xét thấy, đây là các tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng các tiết giảm nhẹ này. Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo M khai báo thật thà, tỏ ra ăn năn hối cải được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo M cung cấp được các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và bị cáo thật thà khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử có xem xét và chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị cáo M, cho bị cáo M được giảm nhẹ một phần hình phạt so với mức hình phạt mà Tòa án sơ thẩm đã tuyên. Riêng việc bị cáo M xin chấp hành hình phạt chính bằng hình phạt tiền không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bởi lẽ, khối lượng chất xỉ thải mà bị cáo xả ra môi trường là rất lớn, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với mức độ tội phạm nghiêm trọng có khung hình phạt từ 03 đến 07 năm tù. Từ khi vụ án bị phát hiện đến nay, bị cáo chưa khắc phục toàn bộ hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ sức răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

(ii) Xét đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn Đ1: Bị cáo Đ1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị xử phạt tiền. Nhận thấy, mặc dù bị cáo Đ1 phạm tội với vai trò giúp sức, thực hiện việc san gạt chất thải rắn ra môi trường theo sự chỉ đạo điều hành của bị cáo M; tuy nhiên, đáng lẽ ra, khi biết bị cáo Mạnh xả thải ra môi trường thì bị cáo Đ1 phải can ngăn hoặc trình báo cơ quan chức năng, nhưng bị cáo lại thực hiện tích cực bằng cách điều khiển các xe ủi để san lắp chất thải rắn theo sự chỉ đạo của bị cáo M. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đ1 có thật thà khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, cùng bị cáo M nộp số tiền 244.906.200 đồng để khắc phục một phần hậu quả. Bị cáo Đ1 cũng được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Mặc dù bị cáo Đ1 được xem là chưa có tiền án, tiền sự, nhưng xét về nhân thân thì bị cáo Đ1 có nhân thân xấu, vào năm 2012 đã bị xử 02 năm tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Đ1, riêng việc bị cáo Đ1 xin áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

3. Bản án hình sự phúc thẩm số 103/2025/HS-PT ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử về tội “Gây ô nhiễm môi trường” đối với bị cáo Nguyễn Thị T do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T

Nội dung sửa án 

Xét kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo của bị cáo T thì thấy: Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo đã nộp số tiền 20 triệu đồng tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh để đảm bảo thi hành án; bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Đức B từng tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú rõ ràng nên cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chuyển 09 tháng tù giam sang cho hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân tốt.

4. Bản án hình sự phúc thẩm số 94/2025/HS-PT ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử về tội “Gây ô nhiễm môi trường” đối với bị cáo Lê Quang H do có kháng cáo của bị cáo Lê Quang H

Nội dung sửa án 

Xét kháng cáo của các bị cáo Lê Quang H Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu tại các phiên tòa có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải. Số lượng chất thải (xỉ nhôm) sát mức đầu khung bị truy tố và sau khi phạm tội, bị cáo đã chủ động khắc phục toàn bộ hậu quả. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo đã chủ động nộp toàn bộ tiền phạt bổ sung, tiền án phí hình sự sơ thẩm. Đây được xác định là tình tiết mới phát sinh nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Từ những phân tích như trên có căn cứ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, thể hiện tính nhân văn cũng như sự khoan hồng của pháp luật, giúp bị cáo an tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội.

5. Bản án hình sự phúc thẩm số 383/2025/HS-PT ngày 28/5/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Gây ô nhiễm môi trường” đối với các bị cáo Đinh Trung T và Nguyễn Thành P do có kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của các bị cáo

Nội dung sửa án 

(i) Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm xác định các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện sửa chữa bồi thường thiệt hại, quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho cả 02 bị cáo, riêng bị cáo P còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, là có căn cứ.

Đối với tình tiết phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn, xét thấy, Đinh Trung T và Nguyễn Thành P chôn lấp, đổ thải ra môi trường, mặc dù sau đó các bị cáo đã thuê Công ty Cổ phần M xử lý làm giảm thiểu thiệt hại nhưng thực tế đã gây ô nhiễm môi trường, hậu quả đã xảy ra nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại cho các bị cáo là chưa chính xác nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, không áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại” mà chỉ áp dụng tình tiết “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” cho các bị cáo.

(ii) Do các bị cáo T và P không có tình tiết tăng nặng, và có nhiều tình tiết giảm nhẹ (bị cáo T có 03 tình tiết và bị cáo P có 04 tình tiết), trong đó có nhiều tình tiết tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, sau khi xảy ra sự việc các bị cáo đã thuê Công ty Cổ phần M xử lý các ụ chất thải mà bị cáo để trên thửa đất, cho thấy thái độ tích cực khắc phục hậu quả; riêng bị cáo P có trình độ học vấn thấp nên khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo là người lao động nhất thời phạm tội do công việc mưu sinh; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có việc làm ổn định, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo và áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo P, từ đó xử phạt bị cáo T 01 năm 6 tháng tù và phạt bổ sung 200.000.000 đồng, xử phạt bị cáo P 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo nên không cần thiết tăng nặng hình phạt đối với các bị cáo.

6. Bản án hình sự phúc thẩm số 234/2025/HS-PT ngày 14/4/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Gây ô nhiễm môi trường” đối với bị cáo Phạm Ngọc T do có kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc T

Nội dung sửa án 

Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường, gây nguy hại đến môi trường sống tại khu vực thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước về tài nguyên, môi trường, đô thị và ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, thể hiện ý thức coi thường và bất chấp pháp luật. Khi xem xét quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định, đánh giá, áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có căn cứ.

Tuy nhiên, trong vụ án này Thạch Văn T2 là chủ mưu, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T chỉ là người giúp sức với vai trò thứ yếu; chất thải mà các bị cáo chôn lấp không phải là chất độc hại, không gây ô nhiễm môi trường. Hơn nữa, hiện nay bị cáo T đang nuôi con nhỏ sinh năm 2017 (con chung với bị cáo T2); bị cáo có nhân thân tốt, bị nhiễm HIV; phạm tội lần đầu, quá trình giải quyết vụ án thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là 03 năm tù, là đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo T, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đã đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm, đồng thời thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

7. Bản án hình sự phúc thẩm số 128/2026/HS-PT ngày 05/02/2026 của Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Gây ô nhiễm môi trường” đối với bị cáo Mai Đức V do có kháng cáo của bị cáo Mai Đức V

Nội dung 

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; người bào chữa cho bị cáo đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo và chuyển sang hình phạt tiền hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.

Tuy nhiên, xét Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo với mức án 01 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo và ý kiến đề nghị của người bào chữa.

8. Bản án hình sự phúc thẩm số 36/2024/HS-PT ngày 21/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Gây ô nhiễm môi trường” đối với Vũ Anh V và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo

Nội dung 

(i) Xét kháng cáo của bị cáo Vũ Anh V, Bùi Chí C, Tống Viết M: Hội đồng xét xử xét thấy, trong vụ án này bị cáo V có vai trò chủ mưu, trực tiếp trao đổi với Nguyễn Văn C2 để nhận san lấp mặt bằng, tuy nhiên bị cáo đã không làm đúng thỏa thuận, tự ý dùng chất thải rắn đế san lấp với một khối lượng đặc biệt lớn, trên diện tích rộng. Bị cáo C, bị cáo M là người được bị cáo V thuê để chở rác đến san lấp mặt bằng, phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực, là người thực hành, trong đó Bùi Chí C chở tổng cộng là 33 xe rác thải, Tống Viết M chở tổng cộng là 30 xe rác thải. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách, quy định về xử lý chất thải của nhà nước, gây ô nhiễm môi trường và nguy hại đến hệ sinh thái, đồng thời gây ảnh hưởng trật tự an ninh tại địa phương.

Căn cứ với tính chất, mức độ, vai trò như đã phân tích thì việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 04 năm 06 tháng tù đối với bị cáo V là có căn cứ, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo V không trình bày được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Riêng các bị cáo M và C có cung cấp tài liệu xác nhận là lao động chính trong gia đình, gia đình có hoàn cảnh khó khăn; bị cáo C có thời gian tham gia Q. Tuy nhiên với tính chất, mức độ và vai trò của người phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 03 năm tù (mức án đầu khung hình phạt) đối với bị cáo C và bị cáo M là thỏa đáng, không nặng.

Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

(ii) Đối với kiến nghị của Hội đồng xét xử sơ thẩm liên quan đến trách nhiệm của ông Nguyễn Văn C2. Hội đồng xét xử xét thấy, ngày 09/5/2018 ông Nguyễn Văn C2 ký hợp đồng san lấp mặt bằng với ông Trần Hồng T4 và bà Nguyễn Thị Cẩm S, với nội dung san lấp mặt bằng theo sổ đỏ của ông T4 và bà S với giá 130.000.000 đồng/m2. Đồng thời nội dung hợp đồng còn thể hiện ông Nguyễn Văn C2 cam kết chỉ đổ xà bần, đất cát, không đổ rác thải công nghiệp khác (Bút lục 1961, 1962). Sau đó, ông Nguyễn Văn C2 thỏa thuận miệng và giao việc san lấp mặt bằng cho bị cáo Vũ Anh V, ông C2 thanh toán cho bị cáo V số tiền 750.000.000 đồng tiền công san lấp mặt bằng. Trên cơ sở kết quả điều tra, lời khai của bị cáo Vũ Anh V tại các bút lục 1157, 238 thể hiện : việc bị cáo V dùng rác thải công nghiệp để san lấp mặt bằng ông C2 hoàn toàn không biết, chỉ có một lần ông C2 xuống khu đất thấy có rác nên C2 có hỏi thì bị cáo V trả lần đổ rác để lót đường cho xe tải chạy, nên ông C2 không có ý kiến gì. Nội dung này được xác định phù hợp với lời khai của ông Đinh Thông M1 tại bút lục 318 cho rằng khi phát hiện Vũ đổ rác thải thì ông M1 có điện thoại cho ông C2, nhưng ông C2 giải thích đổ rác để tạo lối vào cho xe chở vật liệu san lấp. Đồng thời, ông Nguyễn Văn C2 còn khai nhận« Trong quá trình thực hiện tôi (Cơ) không biết rõ nguồn gốc chất thải là đất đá dùng làm vật liệu san lấp do ông V đích thân chỉ đạo thực hiện » tại bút lục 320, 310, 313. Như vậy, trên cơ sở đánh giá các chứng cứ và thông qua lời khai của bị cáo Vũ Anh V, ông Nguyễn Văn C2, ông Đinh Thông M1 cho thấy chưa đủ căn cứ để xác định ông C2 thỏa thuận và biết rõ bị cáo Vũ A V dùng rác thải để san lấp mặt bằng, gây ô nhiễm môi trường. Do đó, chưa đủ căn cứ để xử lý ông Nguyễn Văn C2 về vai trò đồng phạm với bị cáo Vũ Anh V trong vụ án này.

9. Bản án hình sự phúc thẩm số 05/2023/HS-PT ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử về tội “Gây ô nhiễm môi trường” đối với bị cáo Lục Thế V do có kháng cáo của bị cáo Lục Thế V

Nội dung 

Xét kháng cáo của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như đã xem xét toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến môi trường, ảnh hưởng đến quyền, mục đích sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất, bị cáo thực hiện hành vi đổ chất thải khi không được cấp có thẩm quyền cho phép, việc làm của bị cáo là trái với quy định về bảo vệ môi trường và việc quản lý đất đai của Nhà nước. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được các tài liệu, chứng cứ mới và không đưa ra được căn cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình; Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo.