Thông báo rút kinh nghiệm số 61/TB-VKS-HC ngày 06/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về “Khiếu nại hủy một phần quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai liên quan đến bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 61/TB-VKS-HC NGÀY 06/8/2024 CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG VỀ “KHIẾU NẠI HỦY MỘT PHẦN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI LIÊN QUAN ĐẾN BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT”
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
Bản án sơ thẩm nhận định: Theo Quyết định số 3846/QĐ-UBND ngày 06/7/2020 của UBND thành phố H về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện Dự án di dời giải tỏa các dân tại 01 L. T, phường T, thành phố H, hộ bà Nguyễn T. V (hộ chính) được cấp 01 lô tái định cư, đối với hộ gia đình ông Lê T. H vì không có trong danh sách tại văn bản xác nhận tình trạng sinh sống đối với các hộ phụ của UBND phường T nên không được phê duyệt. Lý do hộ gia đình ông H không có tên trong danh sách xét duyệt là do vợ chồng ông và 2 con chung hộ khẩu với bà V (hộ chính), chưa được tách ra riêng mặc dù trước, sau thời điểm dự án di dời giải tỏa ông bà vẫn sinh sống tại nhà, đất số 01 L. T.
Tuy nhiên, tại Công văn số 169/CV-UBND ngày 14/6/2023 của UBND phường B và Biên bản làm việc ngày 26/01/2022 của UBND phường B thể hiện: “... hộ gia đình ông Lê T. H có 04 nhân khẩu có sinh sống thực tế tại thửa đất 01 L T do bà Nguyễn T. V là hộ chính, trước đây hộ ông Lê T. H không có trong danh sách xét duyệt là do cùng chung hộ khẩu với hộ bà V nhưng chưa được tách riêng ra nên không có trong danh sách phương án phê duyệt. Các đơn trước đây của hộ bà V cũng đã thể hiện nội dung này. Hiện hộ ông Lê T. H không có nhà, đất ở nào khác trên địa bàn phường. Ý kiến kết luận: Đề xuất cấp có thẩm quyền bố trí tái định cư cho hộ ông Lê T. H vì đã có sinh sống thực tế tại hộ bà V từ trước và sau ngày Dự án giải toả di dời khu tập thể 01 L. T − B - H.
Theo quy định khoản 2 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, quy định: “Trường hợp hộ gia đình có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở bị thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình cùng chung quyền sử dụng một thửa đất ở thu hồi thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình hình thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình...”; khoản 2 Điều 9 Quyết định 37/2018/QĐ-UBND ngày 19/6/2018 của UBND tỉnh H quy định bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất và bố trí tái định cư: “Trường hợp hộ gia đình có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở bị thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú nếu có nhu cầu về chỗ ở và không có chỗ ở nào khác trong cùng địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi thì UBND cấp huyện căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình hình thực tế tại địa phương quyết định bán thêm căn hộ tái định cư hoặc giao thêm đất ở có thu tiền sử dụng đất cho từng hộ gia đình.”
Như vậy, xét về điều kiện, đối tượng để được bố trí đất tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở thì hộ gia đình ông H có đủ điều kiện để được bố trí tái định cư theo quy định của pháp luật. Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện việc xác nhận của UBND phường B về danh sách xét duyệt trước đây là chưa phù hợp, chưa đúng quy định, do đó đã đề nghị cấp có thẩm quyền bố trí tái định cư đối với hộ ông H. Bên cạnh đó, khi thực hiện dự án này, UBND thành phố H có lập phương án bố trí tái định cư đối với các hộ dân phải di dời, nên có cơ sở để bố trí tái định cư đối với hộ gia đình bị Nhà nước thu hồi đất ở.
Toà án cấp sơ thẩm nhận định và căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 27 Luật Cư trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013), khoản 2 Điều 9 Quyết định 37/2018/QĐ- UBND ngày 19/6/2018 của UBND tỉnh H để không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đối với ông H là có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật; chưa xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện đối với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện.
Trên đây là vi phạm của Tòa án nhân dân tỉnh H trong việc giải quyết vụ án hành chính nêu trên. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thông báo đến các Viện kiểm sát trong khu vực cùng tham khảo và rút kinh nghiệm khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính tương tự./.