Đề xuất Án lệ về việc xác định tài sản chung trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ gia đình

ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CHUNG TRONG TRƯỜNG HỢP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỨNG TÊN HỘ GIA ĐÌNH

Tình huống pháp lý:

Quyền sử dụng đất có nguồn gốc của cha mẹ. Người cha (hoặc người mẹ) chết trước khi được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, vợ chồng cùng người mẹ (hoặc người cha) sinh sống, xây dựng tài sản trên đất và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ gia đình.

Nội dung đề xuất án lệ:

“[2.2] Nguồn gốc thửa đất số 87 (theo giấy CNQSDĐ là thửa số 124) là của cụ Nguyễn Hữu T2 và cụ Nguyễn Thị D. Năm 1968, cụ T2 chết không để lại di chúc. Năm 1987, ông T kết hôn với bà V, vợ chồng ở chung với cụ D. Năm 1991, vợ chồng và cụ D có xây 01 ngôi nhà hai tầng trên thửa đất số 87. Năm 2001, ông T làm thủ tục xin cấp giấy CNQSDĐ, đã được UBND huyện Y cấp giấy CNQSDĐ ngày 29/6/2001 cho hộ ông Nguyễn Hữu T. Việc cấp giấy CNQSDĐ được diễn ra công khai, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục. Sau khi được cấp giấy CNQSDĐ cụ D vẫn chung sống cùng vợ chồng ông T, cụ D biết và không có ý kiến gì (điều này được ông T xác nhận tại phiên toà sơ thẩm ngày 17/5/2018).

Năm 1990-1991, vợ chồng ông T và cụ D xây 01 ngôi nhà hai tầng trên thửa đất, các chị của ông T đều biết và đến làm giúp. Căn cứ án lệ số: 03/2016/AL đã được Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thông qua ngày 06/4/2016, bản án sơ thẩm đã xác định thửa đất số 87 và tài sản trên đất là tài sản chung của vợ chồng ông T, bà V và cụ D là có căn cứ. Do đó, mỗi người được hưởng 1/3 tổng giá trị tài sản.

Đối với cụ Nguyễn Hữu T2 là chồng cụ Nguyễn Thị D thì thấy: Năm 1968 cụ T2 chết; năm 2001 UBND huyện Y cấp giấy CNQSDĐ cho hộ ông T. Như vậy cụ T2 chết trước thời điểm cấp giấy CNQSDĐ nên cụ T2 không thuộc thành phần được cấp giấy CNQSDĐ đối với thửa 87. Ngoài ra cụ T2 không còn di sản thừa kế nào khác.”