Thông báo rút kinh nghiệm số 486/TB-TA ngày 14/5/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc rút kinh nghiệm trong công tác xét xử 06 tháng đầu năm 2026 của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Tây Ninh
THÔNG BÁO RÚT KINH NGHIỆM SỐ 486/TB-TA NGÀY 14/5/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH VỀ VIỆC RÚT KINH NGHIỆM TRONG CÔNG TÁC XÉT XỬ 06 THÁNG ĐẦU NĂM 2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN HAI CẤP TỈNH TÂY NINH
Nội dung vấn đề cần rút kinh nghiệm:
I. HÌNH SỰ
1. Một số sai sót cần rút kinh nghiệm thông qua công tác xét xử:
1.1. Quá trình điều tra, truy tố chưa đầy đủ, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm nhưng cấp sơ thẩm không phát hiện
Một số vụ án có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm trong giai đoạn điều tra, truy tố nhưng cấp sơ thẩm không phát hiện, dẫn đến cấp phúc thẩm phải hủy án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại (Vụ án Mang Văn Đẩu cùng đồng phạm phạm tội “Tổ chức đánh bạc” của TAND khu vực 3; vụ án Lê Đức Dư cùng đồng phạm phạm tội “Gây rối trật tự công cộng; tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” của TAND khu vực 4).
1.2. Chưa cập nhật kịp thời các quy định mới của pháp luật khi xét xử
1.2.1. Đối với người chưa thành niên phạm tội
Trường hợp bị cáo là người chưa thành niên nhưng cấp sơ thẩm xử phạt 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm kể từ ngày tuyên án là trái với quy định tại Điều 124 và khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên (Vụ án Nguyễn Thành Nhân “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” của TAND khu vực 11).
1.2.2. Đối với việc áp dụng BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2025
Trường hợp hành vi phạm tội được thực hiện trong thời điểm Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 đã có hiệu lực, nhưng cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm vẫn áp dụng Bộ luật Hình sự (BLHS) chưa được sửa đổi, bổ sung năm 2025, dẫn đến áp dụng hình phạt không đúng (Vụ án Nguyễn Ngọc Huy “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của TAND khu vực 7).
1.3. Xử sai khung hình phạt
1.3.1. Xác định chưa đúng trường hợp tái phạm nguy hiểm
Trường hợp bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại Điều 53 BLHS, phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS, nhưng cấp sơ thẩm chỉ xét xử theo khoản 1 Điều 173 BLHS (Vụ án Lưu Thị Phương Mai “Trộm cắp tài sản” của TAND khu vực 10).
1.3.2. Áp dụng không đúng tình tiết định khung
Trường hợp bị cáo không sử dụng hung khí để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng cấp sơ thẩm lại áp dụng tình tiết định khung “sử dụng vũ khí” theo điểm d khoản 2 Điều 168 BLHS (Vụ án Nguyễn Hữu Thành “Cướp tài sản” của TAND khu vực 4).
1.4. Xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt không đúng quy định
Trường hợp bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 BLHS, nhưng đồng thời có tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS; tuy nhiên cấp sơ thẩm vẫn áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (Vụ án Lương Thị Minh Kiều “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của TAND khu vực 2).
1.5. Buộc bị cáo chịu án phí không đúng quy định
Trường hợp bị cáo là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn án phí theo Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhưng cấp sơ thẩm vẫn buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm (Vụ án Nguyễn Thành Lâm “Cố ý gây thương tích” của TAND khu vực 10).
1.6. Mức hình phạt chưa nghiêm
Trường hợp bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tái phạm trong thời gian rất ngắn sau khi bị kết án, nhưng cấp sơ thẩm chỉ áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là chưa nghiêm, chưa bảo đảm yêu cầu giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung (Vụ án Nguyễn Quốc Huy “Trộm cắp tài sản” của TAND khu vực 10).
2. Giải đáp một số vướng mắc nghiệp vụ:
2.1. A thỏa thuận với B, theo đó A giao cho B 0,2 gam Methamphetamine để bán cho C lấy số tiền 1.000.000 đồng. A nói với B khi giao ma túy cho C thì B có trách nhiệm lấy số tiền 1.000.000 đồng về giao lại cho A và nhận từ C số tiền công là 500.000 đồng. Trên đường đi, B bị Công an bắt, còn các đối tượng A, C không truy tìm được. Trường hợp này, có hai quan điểm:
Thứ nhất, B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” vì mục đích B giao ma túy cho C là để hưởng lợi số tiền 500.000 đồng.
Thứ hai, B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vì không bắt được A và C nên không chứng minh được có việc mua bán giữa A và C (TAND khu vực 4).
Thống nhất quan điểm thứ hai, theo đó B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 BLHS vì không xác định được A và C thì không xác định được người mua và người bán ma túy nên căn cứ khoản 2 Điều 98 Bộ luật Tố tụng hình sự “không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội”. Do đó, chỉ chứng minh được B có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nên chỉ xử lý B tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 BLHS.
2.2. A thuê phòng Karaoke để tổ chức sinh nhật và tự bỏ tiền ra mua 01 gói ma túy bỏ trong túi quần. Sau đó, điện thoại rủ B, C, D đến dự sinh nhật. Trong lúc đang uống rượu, A lấy gói ma túy đổ trên bàn, sử dụng 01 tờ tiền Polymer, mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn thành ống hút, mời B, C, D sử dụng ma túy, A không sử dụng. Trong
lúc B, C, D đang sử dụng thì bị công an bắt, thu giữ trên bàn 0,4 gam Methamphetamine, 01 tờ tiền Polymer Việt Nam đồng, mệnh giá 10.000 đồng. Trường hợp này, có hai quan điểm:
Thứ nhất, A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” vì A có hành vi mua ma túy, chuẩn bị phòng Karaoke, sử dụng 01 tờ tiền cuộn tròn để cho B, C, D sử dụng ma túy.
Thứ hai, A phạm tội “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” vì A không sử dụng ma túy mà có hành vi đổ ma túy trên bàn, rủ rê B, C, D sử dụng (TAND khu vực 4).
Thống nhất quan điểm thứ nhất, theo đó A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 255 BLHS vì A chuẩn bị địa điểm, ma túy và chuẩn bị dụng cụ mời B, C và D sử dụng và những đối tượng này sử dụng ma túy; hành vi này là hành vi tổ chức, không phải lôi kéo người khác.
2.3. Do mâu thuẫn giữa A và D nên A rủ B, C tìm D để đánh trả thù và được B, C đồng ý. A chuẩn bị hung khí gồm 03 con dao tự chế, sử dụng xe ô tô, loại 4 chỗ của A chở B, C đến Công ty H nơi D đang làm việc với mục đích đánh D. Khi đến nơi, A phát hiện D đang đi bộ trên đường cùng với nhiều công nhân khác tan ca ra về nên dừng xe, mở cửa xe, cầm dao chạy về hướng của D; B thấy vậy cầm dao chạy theo A cùng chém D. Riêng C ngồi trên xe, không tham gia. A và B gây thương tích cho D với tỷ lệ 20%. Trường hợp này, có hai quan điểm: Thứ nhất, A, B, C phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng” vì A, B, C cùng nhau bàn bạc gây thương tích cho D; tại thời điểm A, B chém D là nơi công cộng, có nhiều người đang đi trên đường, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Thứ hai, A, B phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng”, còn C phạm tội “Cố ý gây thương tích” và không phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” vì C không xuống xe, không tham gia vào hành vi chém D (TAND khu vực 4).
Thống nhất quan điểm thứ nhất, theo đó A, B, C phạm tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điều 134 và Điều 318 BLHS. A, B và C đều thống nhất ý chí chuẩn bị phương tiện và hung khí, vũ khí để tìm đánh D nên có đủ dấu hiệu của đồng phạm theo quy định tại Điều 17 BLHS.
2.4. A và B sống gần nhà, do mâu thuẫn trong việc đậu xe trước cửa nhà nên giữa A và B xảy ra mâu thuẫn. Trong lúc cự cãi, A dùng thanh gỗ đập nhiều cái vào xe mô tô của B đang đậu gần đó, làm hư hỏng một số bộ phận xe và gây thiệt hại tài sản với số tiền 3.000.000đồng. Trường hợp này, có hai quan điểm:
Thứ nhất, A phạm tội “cố ý làm hư hỏng tài sản” nhưng không áp dụng tình tiết tăng nặng “có tính chất côn đồ” được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 BLHS.
Thứ hai, A phạm tội “cố ý làm hư hỏng tài sản” và áp dụng tình tiết tăng nặng “có tính chất côn đồ” được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 BLHS (TAND khu vực 4).
Thống nhất quan điểm thứ nhất, theo đó A phạm tội “cố ý làm hư hỏng tài sản” nhưng không áp dụng tình tiết tăng nặng “có tính chất côn đồ” quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 52 BLHS. Tại khoản 4, Điều 4 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã có quy định rõ về trường hợp “phạm tội có tính chất côn đồ”.
…